Chương 1 tác giả đã nêu lên được lý do chọn đề tài là đưa ra các hàm ý cuối cùng để cơ quan quản lý và Ban Giám đốc bệnh viện đa khoa Cái Bè quản trị tốt hệ thống BHYT và phủ sóng BHYT đến toàn bộ người dân trên Huyện Cái Bè, Tỉnh Tiền Giang. Với lý do trên, tác giả đã nêu ra được các mục tiêu cụ thể cũng như mục tiêu tổng quát. Với thời gian nghiên cứu là từ tháng 10 đến tháng 12/2018. Đối tượng được lựa chọn là những Hộ gia đình đã và đang sử dụng BHYT trên địa bàn Huyện Cái Bè, Tỉnh Tiền Giang.
Phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu là nghiên cứu định tính kết hợp nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tế giúp cho các nhà quản trị trong hệ thống quản lý BHYT nhận diện được các nhân tố ảnh hưởng đến Quyết định tham gia BHYT HGĐ của hộ gia đình, từ đó có những phương án phù hợp nhằm thúc đẩy hệ thống hóa toàn diện việc mua và sử dụng BHYT của hộ gia đình trên địa bàn. Luan van 8 CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở lý thuyết về Bảo hiểm y tế 2. Khái niệm về bảo hiểm y tế Bảo hiểm Y tế Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam có định nghĩa về BHYT như sau: “Bảo hiểm Y tế là loại bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khoẻ, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân”. Trong Điều lệ Bảo hiểm Y tế Việt Nam có định nghĩa: “Bảo hiểm Y tế là một loại chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí khám chữa bệnh cho người có thẻ Bảo hiểm Y tế khi ốm đau”. Đây đồng thời là một trong 9 nội dung quan trọng nhất của bảo hiểm xã hội được quy định tại Công ước 102 ngày 28/06/1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về các tiêu chuẩn tối thiểu cho các loại trợ cấp bảo hiểm xã hội.
Khi nói đến BHYT là nói tới BHXH về y tế, là loại hình bảo hiểm của Nhà nước quản lý, khác với BHYT tư nhân hay bảo hiểm có tính chất thương mại. Theo Điều 2, Luật bảo hiểm y tế: Bảo hiểm y tế là một loại hình bảo hiểm trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Tại Việt Nam, bảo hiểm y tế không nhắm tới lợi nhuận, được nhà nước cơ cấu và tổ chức để phục vụ và bảo vệ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của những người có trách nhiệm tham gia theo quy định của luật bảo hiểm. Ngoài ra, BHYT mang tính xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận, hướng tới mục tiêu công bằng, hiệu quả trong khám, chữa bệnh và toàn dân tham gia.
Sự tham gia của mọi người là trách nhiệm đối với những người lao động và tự nguyện với tất cả các đối tượng khác, không phân biệt giới tính, tuổi tác, tình trạng sức khỏe. Theo phương thức quản lý của nhà nước thì hiện nay có 2 loại hình là BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện: Luan van 9 - + Bảo hiểm Y tế bắt buộc: Là hình thức Bảo hiểm Y tế mà các đối tượng được xác định trong Luật có trách nhiệm và thuộc diện bắt buộc phải tham gia BHYT. + Bảo hiểm Y tế tự nguyện (nay gọi là BHYT HGĐ): Theo quy định của Luật BHYT sửa đổi, bổ sung năm 2014, BHYT tự nguyện được chuyển đổi sang hình thức BHYT HGĐ. Tham gia BHYT HGĐ là toàn bộ những người có tên trong hộ khẩu hoặc sổ tạm trú phải tham gia (trừ những người có thẻ BHYT thuộc các nhóm đối tượng khác), khi tham gia hết các thành viên trong HGĐ thì được giảm dần mức đóng.
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm BHYT như là một tổ chức cộng đồng đoàn kết, tương trợ, chia sẻ rủi ro của những người tham gia BHYT. BHYT có nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ cho người tham gia BHYT thông qua việc huy động đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí khám chữa bệnh và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người tham gia BHYT. Đồng thời, người tham gia BHYT cần phải cùng có trách nhiệm với bản thân họ bằng cách tham gia vào các biện pháp rèn luyện và chăm sóc sức khoẻ, phòng tránh hoặc ngăn cản bệnh tật cũng như tác động tích cực vào việc chữa bệnh và khôi phục sức khoẻ và vượt qua những hậu quả do bệnh tật gây ra. Một xã hội phát triển trước hết phải có những con người khoẻ mạnh.
Có sức khoẻ con người mới có thể thực hiện các hoạt động sống phục vụ cho chính bản thân mình và cho cộng đồng. Nhưng không phải lúc nào con người cũng khoẻ mạnh và không phải ai cũng có khả năng chi trả chi phí khám chữa bệnh khi không may gặp rủi ro bất ngờ như ốm đau, bệnh tật. Chính vì vậy ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều triển khai BHYT nhằm giúp đỡ và tạo ra sự công bằng trong chăm sóc sức khoẻ đối với người bệnh. Bản chất của Bảo hiểm y tế Bảo hiểm y tế là một trong những chính sách an sinh xã hội, mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc, thể hiện sự tương thân tương ái, chia sẻ rủi ro giữa người khỏe mạnh với người ốm đau, giữa người trẻ với người già, giữa người có thu nhập Luan van 10 cao với người có thu nhập thấp.
Chính sách BHYT do nhà nước quy định, tổ chức thực hiện và bảo hộ, hình thành nên quỹ tài chính tập trung để thanh toán chi phí khám, chữa bệnh cho người tham gia BHYT. Bảo hiểm y tế là một loại hình dịch vụ công, hoạt động phi lợi nhuận lấy hiệu quả xã hội làm mục đích. BHYT hoạt động theo nguyên tắc chia sẻ rủi ro của một người cho nhiều người cùng gánh chịu, tức là lấy số đông bù số ít, đồng thời là quá trình phân phối thu nhập giữa những người cùng tham gia BHYT theo hướng có lợi cho người gặp rủi ro do ốm đau bệnh tật. Vai trò của Bảo hiểm y tế + Đối với người lao động (NLĐ): Thứ nhất, BHYT có vai trò ổn định về tài chính trong trường hợp rủi ro bị ốm đau, bệnh tật người tham gia BHYT không phải chịu gánh nặng tài chính của chi phí KCB và do đó duy trì mức sống ổn định cho bản thân và gia đình.
Trong chăm sóc sức khỏe được bình đẳng, công bằng và được tiếp cận với các dịch vụ kỹ thuật cao; Thứ hai, thông qua việc đóng phí BHYT, người tham gia BHYT đã chuyển giao những hậu quả rủi ro về tài chính sang cơ quan bảo hiểm; Thứ ba, trong quá trình hoạt động, bên cạnh việc bảo đảm tài chính cho người tham gia bảo hiểm khi rủi ro các tổ chức bảo hiểm cũng luôn chú ý đến việc tăng cường áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền lợi của người tham gia BHYT, góp phần nâng cao sức khỏe con người, làm giảm bớt rủi ro có thể xảy ra; Thứ tư, người tham gia BHYT an tâm về mặt tinh thần, giải tỏa được nỗi sợ hãi, lo lắng về những tổn thất xảy ra đối với mình; Thứ năm, BHYT tác động đến nếp suy nghĩ của các cá nhân, gia đình, chủ sử dụng lao động, góp phần hình thành ý thức, thói quen về việc dành một phần thu nhập để cho cuộc sống tương lai an toàn hơn. + Đối với xã hội: Thứ nhất, tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, người sử dụng lao động (SDLĐ) và NLĐ là mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẻ trách nhiệm, chia sẻ rủi ro chỉ có được trong quan hệ của BHXH, BHYT. Tuy nhiên, mối quan hệ này thể hiện trên góc độ khác nhau. Người lao động tham gia BHYT với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã Luan van 11 hội.
Người SDLĐ tham gia BHYT là trách nhiệm và cùng chia sẻ rủi ro cho NLĐ nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội. Mối quan hệ này thể hiện tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc của BHYT; Thứ hai, BHYT thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, BHYT tạo cho những người không may gặp rủi ro có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những biến cố xã hội, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của xã hội trong mỗi con người giúp họ hướng tới những chuẩn mực của chân - thiện - mỹ nhờ đó có thể chống lại tư tưởng “Đèn nhà ai nhà nấy sáng”. BHYT là yếu tố tạo nên sự hoà đồng mọi người, không phân biệt giàu nghèo, trẻ già, tôn giáo, chủng tộc, đồng thời giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, cuộc sống công bằng, bình yên; Thứ ba, BHYT thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau tương thân tương ái của cộng đồng, đây là nhân tố quan trọng của cộng đồng, giúp đỡ những người rủi ro ốm đau, bệnh tật, tạo điều kiện cho một xã hội phát triển lành mạnh và bền vững; Thứ tư, BHYT góp phần thực hiện bình đẳng xã hội: trên giác độ xã hội, BHYT là một chuẩn mực đánh giá điều kiện sống cho mọi thành viên trong xã hội; trên giác độ kinh tế, BHYT là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng. Nhờ sự điều tiết này người tham gia BHYT được thực hiện bình đẳng, công bằng trong chăm sóc sức khỏe.
Các mô hình nghiên cứu về quyết định mua/tham gia 2. Mô hình nghiên cứu nước ngoài + Hành vi tiêu dùng: Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, “Hành vi tiêu dùng chính là sự tác động qua lại giữa các yếu tố kích thích của môi trường với nhận thức và hành vi của con người mà qua sự tương tác đó, con người thay đổi cuộc sống của họ”. Hay nói cách khác, hành vi tiêu dùng bao gồm những suy nghĩ và cảm nhận mà con người có được và những hành động mà họ thực hiện trong quá trình tiêu dùng. Những yếu tố như ý kiến từ những người tiêu dùng khác, quảng cáo, thông tin về giá cả, bao bì, bề ngoài sản phẩm… đều có thể tác động đến cảm nhận, suy nghĩ và hành vi của khách hàng.