Phần mở đầu; Chương 2: Cơ sở lý luận về tuân thủ thuế Thu nhập cá nhân tại Chi cục Thuế thành phố Tân An; Chương 3: Thiết kế nghiên cứu; Chương 4: Kết quả nghiên cứu; Chương 5: Kết luận và các khuyến nghị 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUÂN THỦ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ TÂN AN 2. Tổng quan về Thuế Thu nhập cá nhân 2. Hệ thống thuế Hệ thống thuế ở Việt Nam là một hệ thống thuế gồm khoảng 8 loại thuế và khoảng hơn 100 loại phí và lệ phí được quản lý tập trung. Mọi nguồn thu từ thuế và lệ phí ở Việt Nam đều do Quốc hội Việt Nam hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội đặt ra bằng luật và pháp lệnh, và được thu bởi Tổng cục Thuế Việt Nam thông qua các cơ quan thu của nó là các Cục thuế, Chi cục thuế, Phòng thuế, Đội thuế và Tổng cục Hải quan Việt Nam thông qua các cơ quan của nó là Cục hải quan, Chi cục hải quan, và các cán bộ chuyên môn được ủy quyền khác ở khắp các địa phương trong cả nước.
Đối với các phí và lệ phí, các cơ quan thu thuộc các bộ, ngành, chính quyền địa phương có liên quan được ủy quyền thu. Thuế Thu nhập cá nhân Định nghĩa Thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) là loại thuế trực thu, thu vào thu nhập của cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định. Đây là loại thuế được áp dụng từ rất lâu và phổ biến ở nhiều quốc gia nhằm mục tiêu tập trung thu nhập cho Ngân sách nhà nước (NSNN) và thực hiện điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư. Thông qua điều tiết một phần thu nhập vào NSNN, những cá nhân có thu nhập cao đã đóng góp nhiều hơn những người có thu nhập thấp vào việc trang trải những nhu cầu chi tiêu của nhà nước, nhu cầu chi tiêu chung của xã hội; các khoản đóng góp này mang lại cho người nghèo những tiện ích phúc lợi mà bản thân họ không lo liệu được.
Đặc điểm Nhìn chung thuế TNCN bao hàm một số đặc điểm sau: - Là một loại thuế trực thu nên thuế TNCN luôn tạo cảm giác gánh nặng về thuế đối với người chịu thuế. Người chịu thuế khó có thể chuyển gánh nặng về thuế 9 cho người khác. Đây là loại thuế liên quan trực tiếp đến lợi ích của người chịu thuế, do đó rất nhạy cảm và dễ bị phản ứng. - Do thực hiện vai trò điều tiết công bằng thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, thuế TNCN thực hiện điều tiết thu nhập theo nguyên tắc phù hợp với khả năng trả thuế.
Do đó, thuế suất thường được thiết kế theo biểu thuế lũy tiến. - Khác hẳn với thuế gián thu, thuế TNCN là loại thuế có chú trọng đến gia cảnh của người chịu thuế thông qua các quy định giảm trừ cho cá nhân người chịu thuế thông qua các quy định giảm trừ cho cá nhân người chịu thuế và những người phụ thuộc. Các quy định giảm trừ góp phần cho thuế TNCN thực hiện nguyên tắc công bằng theo chiều dọc trong điều tiết thu nhập của người dân. Mặt khác còn tạo sự đồng thuận của xã hội nói chung khi áp dụng luật thuế.
- Đối tượng chịu thuế, thu nhập chịu thuế của thuế TNCN rất đa dạng và phức tạp. Ngoài ra, do phải thực hiện mục tiêu điều tiết công bằng thu nhập nên thuế TNCN có biểu thuế khá phức tạp. Công tác quản lý thu thuế cũng không đơn giản và đòi hỏi nhiều về tính trung thực của người chịu thuế. Từ đó làm chi phí hành thu của thuế gia tăng, để giảm bớt chi phí thường áp dụng biện pháp khấu trừ thuế tại nguồn chi trả.
Vai trò - Vai trò kinh tế: Góp phần tạo nguồn thu cho NSNN và nhằm điều tiết, định hướng sự phát triển kinh tế với sự xuất hiện của cơ chế đánh thuế thu nhập thuế suất kép. - Vai trò điều tiết xã hội: Luật thuế TNCN phân phối lại của cải, thu nhập trong xã hội; việc đánh thuế đối với cá nhân được thiết kế phù hợp với khả năng đóng góp và có xem xét đến hoàn cảnh cá nhân của người nộp thuế; thuế TNCN làm tăng ý thức của công dân trong việc giám sát nguồn chi tiêu ngân sách của Nhà nước. Một số mặt trái của việc đánh thuế TNCN - Thứ nhất: về mặt thủ tục hành chính, việc áp dụng thuế TNCN đòi hỏi những thủ tục hành chính khá phức tạp. Thuế TNCN, về bản chất là một sắc thuế có 10 nội dung khó hiểu, nhất là trong việc xác định khoản thu nhập chịu thuế và các khoản chiết trừ gia cảnh.
- Thứ hai: mặc dù thuế TNCN được xem là công cụ để điều tiết thu nhập, tạo ra sự công bằng trong xã hội nhưng vẫn có những lo ngại cho rằng trong quá trình xây dựng đạo luật thuế này đòi hỏi phải có nhiều cuộc tranh cãi về mặt chính trị mà trong các cuộc tranh luận đó, những người giàu có trong xã hội thường giành được những đặc quyền đặc biệt và do vậy sẽ làm giảm tính hiệu quả về tính công bằng của việc thu thuế thu nhập và làm tăng các khoản chi phí về lòng tin khi tiến hành thu thuế TNCN. Hơn thế nữa, trong việc thu thuế TNCN, người ta thường dựa vào thu nhập của đối tượng và đặc tính của đối tượng (ví dụ như người độc thân và người có gia đình) để xem xét sự công bằng. Tuy nhiên, điều này sẽ phải đối mặt với một khó khăn rất lớn trong việc xác định sự công bằng giữa những người làm việc trong các hoạt động kinh tế chính thức và những người làm việc trong các hoạt động kinh tế phi chính thức. Ví dụ, một người thanh niên độc thân làm cho công ty nhà nước có thể sẽ phải chịu thuế (do thu nhập của anh được thể hiện trên bảng lương) còn một người thanh niên độc thân làm việc trong thị trường phi chính thức như giúp việc gia đình, tự môi giới nhà đất.
có thể không bị đánh thuế do cán bộ thuế không biết được thu nhập của anh ta. Sự công bằng không tồn tại trong trường hợp này. Trong nền kinh tế phổ biến các hoạt động kinh tế phi chính thức, tình trạng này vi phạm đến nguyên tắc công bằng theo chiều ngang. Xét đến nguyên tắc công bằng theo chiều dọc, sự vi phạm nguyên tắc công bằng có thể trầm trọng hơn nếu bộ máy quản lý và thu thuế có năng lực kém.
Khi hệ thống đó không kiểm soát được thu nhập thực tế của công dân thì những người thu nhập cao sẽ có cơ hội thuê những chuyên gia tư vấn để sắp xếp lại các báo cáo tài chính của mình để trốn thuế. Điều này là khó xảy ra hơn đối với những người thu nhập thấp thuộc diện đóng thuế. Do vậy, hệ thống quản lý và thu thuế yếu kém sẽ hạn chế tính ưu việt của thuế TNCN trong việc xác định sự công bằng theo chiều dọc. - Thứ ba: việc thu thuế TNCN có thể làm tăng NSNN nhưng cũng có thể tạo ra những tác động làm giảm động lực làm việc và tiết kiệm.
Việc phải nộp cho nhà 11 nước một phần thu nhập do mình bỏ sức lao động để làm ra sẽ làm cho bản thân người nộp thuế cảm thấy lao động bị giảm giá trị (nhất là trong sự so sánh giữa người nộp nhiều thuế và nộp ít thuế) dẫn đến người lao động không còn nhiều hứng thú trong việc làm việc, tạo ra thu nhập cao. Đồng thời, việc đánh thuế đối với thu nhập có được đối với lãi suất trên vốn sẽ có xu hướng làm giảm lượng tiết kiệm trong dân chúng và điều này có thể làm ảnh hưởng tới tốc độ phát triển kinh tế của đất nước. Hộ kinh doanh cho thuê nhà Theo quy định trước 01/01/2015, Hộ kinh doanh cho thuê nhà được định nghĩa là: Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Do đó, có thể hiểu cơ bản hộ kinh doanh là đối tượng kinh doanh nhỏ, có thể do 1 hoặc nhiều thành viên làm chủ, các hoạt động kinh doanh thường là ăn uống, buôn bán nhỏ lẻ, kinh doanh nhà trọ, cho thuê mặt bằng, cho thuê xe và các phương tiện vận tải.
Căn cứ theo quy định hiện hành thì việc cho thuê cá nhân người Việt Nam, người nước ngoài hay công ty (Việt Nam hay nước ngoài) thuê nhà để ở, làm văn phòng.v… là một hoạt động kinh doanh và phải tiến hành làm thủ tục đăng ký kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh – hộ kinh doanh cho thuê nhà. Nhận thức về thuế Sau hơn 10 năm qua, Quốc hội, Chính phủ và Bộ Tài chính, cùng các cơ quan chức năng nói chung, ngành Thuế cả nước nói riêng đã và đang nỗ lực thực hiện chương trình cải cách, hiện đại hoá hệ thống thuế Việt Nam theo mục tiêu hướng tới xây dựng chính sách thuế đồng bộ, thống nhất, công bằng, hiệu quả, thực sự là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô có hiệu quả, hiệu lực, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN:“Đóng thuế là nghĩa vụ của mọi công dân, ai có thu nhập người đó phải đóng thuế”. Thuế suất thuế thu nhập cá nhân 12 của mọi công dân đều như nhau, không phân biệt người thu nhập nhiều hay thu nhập ít. Chi cục thuế cũng đã đưa ra nhiều giải pháp để làm tăng tính tuân thủ thuế và trình độ nhận thức thông qua những chương trình giáo dục chuyên sâu cho người nộp thuế, ví dụ sự chủ động lấy thông tin.
Nhiều chương trình, bài giảng đa dạng mang tính thích nghi, thực tế như những hội nghị chuyên đề, hội thảo, khóa tập huấn thuế, các buổi trao đổi trên radio trực tiếp và các trang web thuế của tỉnh. Nhận thức về tính công bằng thuế Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế. Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật.