CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TUÂN THỦ THUẾ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUÂN THỦ THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP Chương này trình bày nghĩa vụ thuế theo Luật Quản lý thuế năm 2006, lý thuyết về tuân thủ thuế, các nghiên trước và các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của DN. Cơ sở lý thuyết về tuân thủ thuế 1. Nghĩa vụ thuế theo Luật Quản lý thuế Theo Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 thì nghĩa vụ của NNT gồm: “Đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế theo quy định của pháp luật. Khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế.
Nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm. Chấp hành chế độ kế toán, thống kê và quản lý, sử dụng hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật. Ghi chép chính xác, trung thực, đầy đủ những hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế, khấu trừ thuế và giao dịch phải kê khai thông tin về thuế. Lập và giao hoá đơn, chứng từ cho người mua theo đúng số lượng, chủng loại, giá trị thực thanh toán khi bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật.
Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế, số hiệu và nội dung giao dịch của tài khoản mở tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế. Chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật. Chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật trong trường hợp người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền thay mặt NNT thực hiện thủ tục về thuế sai quy định”. Theo quy định trên, nghĩa vụ của NNT có thể được khái quát như sau: - Đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế theo quy định.
5 - Kê khai thông tin về thuế, những hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn. - Chấp hành chế độ kế toán, thống kê, hoá đơn, chứng từ theo quy định; cung cấp chính xác, đầy đủ kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế. - Chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của của CQT, công chức thuế theo quy định; nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm. Nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế được trình bày trong OECD (2004), Quản lý rủi ro tuân thủ: Quản lý và cải thiện tuân thủ thuế, như sau: “Nghĩa vụ cụ thể của đối tượng nộp thuế có thể khác nhau về trách nhiệm thuế và giữa các CQT khác nhau, nhưng có bốn loại nghĩa vụ mà đối tượng nộp thuế chắc chắn phải thực hiện dù ở bất kỳ nước nào là: - Đăng ký thuế; - Nộp tờ khai và nộp các thông tin cần thiết liên quan đến thuế đúng thời hạn; - Báo cáo các thông tin đầy đủ và chính xác (kết hợp với việc lưu giữ sổ sách); - Nộp nghĩa vụ thuế đúng hạn” Nghĩa vụ thuế theo quy định tại Luật Quản lý thuế của Việt Nam và theo OECD không hoàn toàn giống nhau nhưng về cơ bản có những điểm chung.
Luật Quản lý thuế quy định nghĩa vụ thuế có phần chi tiết như chấp hành chế độ kế toán, thống kê, hoá đơn, chứng từ theo quy định; chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật; nộp tiền thuế đúng địa điểm. Về cơ bản nghĩa vụ thuế đều liên quan đến các nội dung: Đăng ký thuế, nộp tờ khai, kê khai (báo cáo) thông tin và nộp thuế. Tuân thủ thuế 6 Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam: Tuân thủ là giữ và làm đúng theo những điều đã quy định. Do đó, có thể khát quát tuân thủ thuế là làm đúng theo những điều đã quy định trong các luật thuế.
Trên thế giới, có nhiều định nghĩa về tuân thủ thuế, một số tác giả đã trình bày như sau: Theo Jeffrey Lloyd Hamm, B. OECD (2004), Quản lý rủi ro tuân thủ - Sử dụng các chương trình thanh tra ngẫu nhiên, định nghĩa tuân thủ thuế là phạm vi mà đối tượng nộp thuế phải hoàn thành các nghĩa vụ thuế của mình. Tại nhiều nước, đối tượng nộp thuế có 3 nghĩa vụ cơ bản: (1) nộp tờ khai thuế đúng hạn; (2) kê khai (báo cáo) chính xác trên tờ khai những thông tin cần thiết để xác định số tiền thuế và (3) nộp nghĩa vụ thuế kịp thời. Các nghĩa vụ này thường được coi là tuân thủ về nộp tờ khai, tuân thủ về báo cáo (kê khai) và tuân thủ về thu nộp.
Mohd Rizal Palil và Ahmad Fariq Mustapha (2011), đã tập hợp nhiều định nghĩa về tuân thủ thuế. Trong đó, các tác giả Andreoni, Erard, và Feinstein (1998) cho rằng việc tuân thủ thuế nên được định nghĩa là sự sẵn sàng của NNT chấp hành luật pháp về thuế để có được trạng thái cân bằng nền kinh tế của một quốc gia. Một định nghĩa rộng hơn, được xác định vào năm 1978 của Song và Yarbrough cho rằng: Do các khía cạnh đáng chú ý của các hoạt động của hệ thống thuế ở Hoa Kỳ và phần lớn là dựa trên tự đánh giá và tuân thủ tự nguyện, tuân thủ thuế cần được xác định như khả năng của NNT và sẵn sàng thực hiện theo quy định pháp luật về thuế được xác định bởi đạo đức, môi trường pháp lý và các yếu tố tình huống khác tại một thời điểm và địa điểm cụ thể. Tương tự như vậy, tuân thủ thuế cũng được xác định bởi một số CQT như khả năng và sự sẵn sàng của NNT thực hiện theo quy 7 định của pháp luật thuế, kê khai thu nhập chính xác trong mỗi năm và thanh toán số tiền thuế phải nộp theo thời gian (CQT Úc , 2009; CQT Malaysia, 2009).
Tác giả Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009) đã nêu: Khái niệm tuân thủ thuế vẫn được các nhà nghiên cứu tiếp tục tranh luận theo hướng nghiên cứu tính tự nguyện hay không tự nguyện chấp hành nghĩa vụ thuế. Quan điểm truyền thống của quản lý thuế chủ yếu dựa trên giả thuyết rằng hầu hết DN về bản chất là không tự nguyện tuân thủ và chỉ chấp hành nghĩa vụ khi có sự cưỡng chế của các CQT hay khi bị tác động bởi lợi ích kinh tế. Cách tiếp cận cưỡng chế tuân thủ luật và cách tiếp cận kinh tế tập trung làm giảm mức độ trốn thuế chứ không hướng vào việc tăng cường sự tuân thủ thuế. Nghiên cứu khái niệm tuân thủ thuế thông qua sự tập trung vào sự không tuân thủ và tính cưỡng chế tuân thủ là đơn giản hóa.
Quan điểm nghiên cứu hiện nay chuyển sang xem xét tính tự nguyện của việc chấp hành nghĩa vụ thuế. Nếu DN tuân thủ thuế chỉ vì sự đe dọa và trừng phạt thì đó dường như không phải là sự tuân thủ đúng nghĩa ngay cả khi 100% dự toán thuế được hoàn thành. Quản lý thu thuế thành công là hầu hết đối tượng tuân thủ thuế một cách tự nguyện mà ít cần đến sự chất vấn, điều tra, nhắc nhỡ hoặc đe dọa và các hành vi xử phạt hành chính khác [7]. OECD (2004), Quản lý rủi ro tuân thủ - Các hệ thống lựa chọn trường hợp thanh tra: tuân thủ với các luật thuế nhìn chung được hiểu là thực hiện đăng ký (thuế) khi có yêu cầu, nộp tờ khai thuế đúng hạn, báo cáo các thông tin chính xác và đầy đủ để xác định nghĩa vụ thuế và nộp tất cả các khoản tiền nợ khi đến hạn nộp.
Việc không tuân thủ sẽ xảy ra khi một trong các nghĩa vụ nêu trên không được đáp ứng, bất kể lý do gì. Bird và Oliver Oldman: Trốn thuế không chỉ là vấn đề hạn chế trong một số ít quốc gia kém phát triển. Bất kỳ nơi nào có thuế, nơi ấy có tình trạng trốn thuế [12]. Không tuân thủ thuế gồm không chủ ý và chủ ý (tránh thuế và trốn thuế) [19] Không chủ ý có thể do không hiểu rõ chính sách pháp luật thuế hoặc không cẩn thận thực hiện không đúng các quy định về thuế.
Cố ý không tuân thủ thuế thường là lợi dụng kẽ hở của pháp luật thuế để tránh thuế và mức độ cao hơn là trốn thuế. Sự khác biệt giữa trốn thuế và tránh thuế dựa trên tính hợp pháp về hành động của NNT. Trốn thuế là một hành vi vi phạm pháp luật: Khi NNT cố tránh báo cáo thu nhập từ lao động, vốn, NNT tham gia vào một hoạt động bất hợp pháp mà làm cho NNT chịu trách nhiệm hành chính hoặc pháp lý từ các cơ quan có thẩm quyền. Trong trốn thuế, NNT lo ngại về khả năng hành động của mình bị phát hiện.
Tránh thuế trong khuôn khổ pháp lý của pháp luật về thuế. Nó bao gồm khai thác những sơ hở trong pháp luật về thuế để giảm nghĩa vụ thuế, chuyển đổi thành thu nhập ở mức thấp hơn. Khi tránh thuế, NNT không có lý do để lo lắng về việc bị phát hiện. Ngược lại, thường là bắt buộc rằng NNT làm một báo cáo chi tiết về giao dịch để đảm bảo rằng NNT sẽ giảm số thuế mong muốn [23].
Luật Quản lý thuế quy định những hành vi vi phạm pháp luật về thuế của NNT: Vi phạm các thủ tục thuế; chậm nộp tiền thuế; khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn; trốn thuế, gian lận thuế. Vi phạm thủ tục thuế: Nộp hồ sơ đăng ký thuế sau ngày hết hạn; nộp hồ sơ khai thuế trong khoảng thời gian chín mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn hoặc ngày hết thời hạn gia hạn; khai không đầy đủ các nội dung trong hồ sơ thuế, trừ trường hợp NNT khai bổ sung trong thời hạn; vi phạm các quy định về cung cấp thông tin liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế; vi phạm các quy định về chấp hành quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế. 9 Chậm nộp tiền thuế: chậm nộp so với thời hạn quy định, thời hạn gia hạn, thời hạn ghi trong thông báo, thời hạn trong quyết định xử lý; khai sai dẫn đến làm thiếu số tiền phải nộp khi cơ quan có thẩm quyền phát hiện mới nộp thêm.