Chương 1: Những vấn đề chung về quản lý thuế GTGT và pháp luật thuế GTGT đối với các doanh nghiệp NQD. Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp NQD trên địa bàn thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. 4 Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế GTGT và tăng cường quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp NQD trên địa bàn thành phố Uông Bí. 5 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOAN 1.
Những vấn đề cơ bản về quản lý thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm về thuế giá trị gia tăng Thuế giá trị gia tăng (GTGT) có nguồn gốc từ thuế doanh thu, được nghiên cứu từ sau đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914-1918) và chính thức được áp dụng đầu tiên tại nước Pháp vào ngày 01 tháng 7 năm 1954. Khai sinh từ nước Pháp, thuế GTGT đã nhanh chóng được áp dụng rộng rãi trên thế giới, trở thành nguồn thu quan trọng của nhiều nước. Đến nay, đã có trên 120 nước áp dụng thuế GTGT, chủ yếu là các nước châu Phi, châu Mỹ Latinh, các nước trong khối cộng đồng châu Âu và một số nước châu Á.
Thuế GTGT tiếng Anh là Value Added Tax (VAT), tiếng Pháp là Taxe Sur la Valeur Ajoutée (TVA) là loại thuế được tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Do thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ nên đối tượng nộp thuế phải là các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có giá trị tăng thêm, nhưng thực chất phần thuế mà họ nộp là do người mua hàng hóa dịch vụ phải thanh toán. Vì vậy, thuế GTGT là thuế gián thu. Như vậy, thuế GTGT được hiểu như sau: "Thuế GTGT là loại thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở từng khâu trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng".
Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT có nhiều điểm tương đồng với các loại thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ khác nhưng dựa trên bản chất của thuế GTGT có thể nhận diện nó thông qua các đặc điểm sau: Thứ nhất, thuế GTGT là một sắc thuế thuộc loại thuế gián thu: Đối tượng nộp thuế GTGT là người bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ còn người chịu thuế là người tiêu dùng hàng hoá dịch vụ cuối cùng. Nói cách khác Nhà nước gián tiếp thu khoản thuế này của người tiêu dùng thông qua người bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ. Đặc 6 điểm này giúp thuế GTGT có thể tránh được sự phản ánh gay gắt về thuế của người chịu thuế, đồng thời cơ quan nhà nước có thẩm quyền dễ quản lý hơn vì người sản xuất, kinh doanh không phải là người thực tế chịu thuế nên sẽ hạn chế động cơ trốn thuế. Xét trong mối quan hệ tay ba: Nhà nước, người chịu thuế và NNT thì NNT sẽ đóng vai trò trung gian thu thuế hộ Nhà nước rồi nộp vào NSNN.
Sự không đồng nhất giữa NNT và người chịu thuế dẫn đến thân phận pháp lý của mỗi đối tượng là khác nhau, có những quyền và nghĩa vụ khác nhau. Vì vậy, đối với thuế GTGT nói riêng và thuế gián thu nói chung việc phân biệt người chịu thuế và NNT rất quan trọng về phương diện pháp lý. Thứ hai, thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn: Thuế GTGT là thuế đánh vào phần thu nhập của người tiêu dùng để mua hàng hoá dịch vụ, nói cách khác là đánh vào khâu tiêu dùng cuối cùng. Tuy nhiên, do rất khó phân biệt khâu tiêu dùng cuối cùng và khâu tiêu dùng trung gian nên thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn.
Tổng số thuế thu được của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính theo giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Thứ ba, thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao: Thuế GTGT không phải là yếu tố chi phí mà đơn thuần là yếu tố cộng thêm ngoài giá bán của người cung cấp hàng hoá dịch vụ. Thuế GTGT không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi kết quả kinh doanh của NNT, bởi quá trình tổ chức và phân chia các chu kỳ kinh tế; sản phẩm được luân chuyển qua nhiều hay ít giai đoạn thì số thuế GTGT phải nộp của tất cả các giai đoạn không thay đổi. Thứ tư, thuế GTGT có tính chất lũy thoái so với thu nhập: Người chịu thuế GTGT là người tiêu dùng những hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT, không phân biệt thu nhập cao hay thấp đều phải chịu số thuế như nhau.
Như vậy, nếu so sánh tỷ lệ giữa số thuế phải trả với thu nhập thì người có thu nhập cao hơn thì tỷ lệ này sẽ thấp hơn và ngược lại. 7 - Về phạm vi đánh thuế, thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ. Đặc điểm này tạo ra sự công bằng trong những giao dịch quốc tế thông qua việc không thu thuế đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu và đánh thuế đối với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu. Những nội dung quản lý thuế giá trị gia tăng - Quy định xác định phạm vi áp dụng thuế GTGT: + Chủ thể nộp thuế GTGT: xác định những chủ thể nào phải nộp thuế GTGT, trong đó vấn đề cốt lõi là quy định các tiêu chí xác định chủ thể nộp thuế GTGT.
Việc quy định về chủ thể nộp thuế GTGT phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản trong đánh thuế nói chung như nguyên tắc công khai, minh bạch; công bằng; trung lập; hiệu quả kinh tế; đánh thuế phù hợp với khả năng tài chính của NNT… + Đối tượng chịu thuế GTGT: xác định rõ đối tượng nào bị đánh thuế GTGT (đối tượng phải chịu thuế GTGT) là những loại hàng hóa, dịch vụ nào. Đồng thời xác định phạm vi đối tượng nào không thuộc diện chịu thuế GTGT. Việc quy định đối tượng chịu thuế GTGT hay không chịu thuế GTGT phải dựa trên những cơ sở khoa học nhất định và đảm bảo thực hiện được các mục tiêu chủ yếu của Nhà nước trong chính sách thuế GTGT của từng thời kỳ. - Quy định quản lý về căn cứ tính thuế GTGT: Đây là nhóm quy phạm có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xác định mục tiêu của chính sách thuế.
Có nhiệm vụ phải quy định rõ những căn cứ để xác định số tiền thuế phải nộp đối với NNT, cụ thể ở đây là cách xác định giá tính thuế như thế nào và thuế suất của từng nhóm hàng hoá, dịch vụ. Nội dung này phải đảm bảo tính khoa học, chính xác và hợp lý, tránh gây ra bất cập hoặc thiệt hại cho các chủ thể trong quá trình thực hiện pháp luật thuế GTGT, làm giảm tính hiệu quả của pháp luật thuế GTGT. - Quy định quản lý về phương pháp tính thuế GTGT: Chế định này có nội dung xác định các phương pháp cơ bản để tính thuế GTGT cho người nộp thuế. Đối với thuế GTGT có hai phương pháp đó là phương 8 pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT.
Về nguyên tắc, các phương pháp tính thuế không chỉ là căn cứ để NNT tự kê khai, tính thuế đối với Nhà nước mà còn là căn cứ để cơ quan thuế xác định và ấn định số thuế phải nộp đối với NNT trong trường hợp cần thiết. - Quy định quản lý về khấu trừ, hoàn thuế GTGT: Đây là các quy định về nội dung khấu trừ thuế GTGT đầu vào; chủ thể được hoàn thuế GTGT là ai, căn cứ vào đâu để hoàn thuế GTGT và các trường hợp cụ thể nào sẽ được hoàn thuế GTGT. Về nguyên tắc, việc quy định về khấu trừ , hoàn thuế GTGT phải đảm bảo đúng đối tượng nhằm phát huy tác dụng thiết thực và ý nghĩa tích cực của chế định này trong thực tiễn thực hiện. - Quy định quản lý về hoá đơn, chứng từ: Về hoá đơn, chứng từ gồm các quy phạm xác định loại hoá đơn GTGT cho từng chủ thể kinh doanh; các yêu cầu về nội dung cũng như hình thức của hoá đơn GTGT; quy định về việc tạo lập, phát hành, sử dụng và quản lý hoá đơn GTGT.
- Nhóm quy phạm pháp luật quy định về quản lý thuế GTGT: Nội dung của nhóm quy phạm pháp luật này là xác định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan thuế trong việc quản lý công tác đăng ký kê khai, nộp và tiến hành thu thuế GTGT và công tác hoàn thuế, miễn giảm thuế. Bên cạnh đó, nhóm các quy phạm pháp luật về hình thức quy định về trình tự, thủ tục của việc giải quyết các tranh chấp và xử lý các vi phạm pháp luật về thuế GTGT. Những vấn đề cơ bản về pháp luật quản lý thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm pháp luật về quản lý thuế giá trị gia tăng Pháp luật về thuế là một bộ phận quan trọng trong pháp luật của mỗi quốc gia và mỗi quốc gia lại có một cách xây dựng hệ thống pháp luật về thuế riêng để phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của mình.
Thực tiễn lập pháp cho thấy, có hai xu hướng ban hành pháp luật về thuế khá phổ phiến. Một là, quy định tất cả các sắc thuế trong 1 bộ luật chung về thuế, gọi là bộ luật thuế vụ. Trong bộ luật này, các nhà làm luật vừa quy định về nội dung cụ thể của các loại thuế trong hệ thống thuế, vừa quy định về trình tự, thủ tục hành thu và 9 cơ chế quản lý thu cũng như xử lý vi phạm và giải quyết các tranh chấp thuế. Hai là, mỗi loại thuế được ban hành bằng một đạo luật riêng, độc lập với nhau nhưng vẫn đảm bảo tính tương thích với nhau và đồng thời tách bạch các quy định về quản lý thuế bằng một đạo luật riêng biệt so với các đạo luật thuế gọi là Luật quản lý thuế.