đặt vấn đề nghiên cứu, lý do chọn đề tài, vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa và ứng dụng của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về khái niệm né tránh thuế, lợi ích và chi phí của hành vi né tránh thuế, thuế suất hiệu lực truyền thống, chênh lệch thuế, các lý thuyết làm nền tảng cho nghiên cứu như: lý thuyết dòng tiền tự do và quản lý dòng 6 tiền, tổng quan tình hình nghiên cứu và tông quan về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam qua các thời kỳ. Chương 3: Xây dựng các giả thuyết nghiên cứu, trình bày phương pháp nghiên cứu, cách thức lựa chọn mẫu và đo lường các biến. Chương 4: Trình bày và thảo luận kết quả nghiên cứu thực nghiệm, qua đó chấp nhận hay bác bỏ các giả thuyết được xây dựng.
Đánh giá tác động của né tránh thuế, sở hữu tổ chức và một số nhân tố phụ trợ khác đến chính sách nợ doanh nghiệp. Chương 5: Kết luận và kiến nghị giải pháp, chương này nêu ra một số hạn chế trong đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Nội dung chương này chủ yếu trình bày một số khái niệm chính về né tránh thuế, sở hữu tổ chức, chính sách nợ, một số lý thuyết nền của đề tài nghiên cứu. Ngoài ra, chươing còn trình bày một số nghiên cứu của tác giả trong và ngoài nước, từ đó xây dựng các giả thuyết kiểm định.1 Một số khái niệm a.
Khái niệm về né tránh thuế Né tránh thuế được xác định trong nhiều nghiên cứu khác nhau. Chẳng hạn như: né tránh thuế là việc làm giảm thuế trên 1 đơn vị tiền tệ (bài nghiên cứu của tác giá là đồng đô la Mỹ) của lợi nhuận kế toán trước thuế (Hanlon và Heitzman, 2009 ). Sự khác nhau giữa thu nhập chịu thuế và thu nhập kế toán bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau mà cơ bản nhất là 2 hệ thống. Hanlon và heitzman đã chỉ ra rằng, về lý thuyết các tiêu chuẩn kế toán tài chính tuân theo một khuôn mẩu nhất định được quy định trong GAAP (Các nguyên tắc kế toán chấp nhận chung) mà có thể nắm bắt được các giao dịch tài chính để cung cấp những thông tin hữu ích cho những người ra quyết định như là các nhà đầu tư vốn hoặc các đồi tác ký kết hợp đồng.
Các quy định về thuế được viết bởi một chu trình mang tính chất chính trị nhiều hơn, các nhà làm luật có thể ban hành luật thuế để gia tăng thu nhập của nhà nước vào thuế, khuyến khích hoặc hạn chế một số hoạt động và thử khuyến khích nền kinh tế. Việc tính thu nhập chịu thuế là dồn tích lại nhưng thực tế là một sự lai tạp giữa kế toán dồn tích và kế toán dựa trên dòng tiền, không cho phép doanh nghiệp ước lượng được chi phí của việc chi trả tiền mặt tăng lên. Hơn thế nữa các luật thuế tập trung vào mặt thu nhập thích hợp có thể đánh thuế trên doanh thu. Ngược lại, đối với kế tóan tài chính việc thống nhất trình bài bản báo cáo tài chính bao gồm tất cả thu nhập (và lỗ) bất kể là nó phát sinh từ đâu.
Hai phương pháp đo lường thu nhập này củng có liên hệ với nhau. Một nguồn gốc tiềm tàng khác dẫn đến sự khác biệt giữa thu nhập kế toán và thu nhập chịu thuế ít nhất là nguồn gốc nghi ngờ là sự tranh cải về báo cáo cho mục đích thuế. Ví dụ: khi người quản lý bóp méo thu nhập tăng lên, họ có thể có sự lựa 8 chọn giữa báo cáo thu nhập chịu thuế với một khoản cao hơn và chi trả thuế cho khoản vượt trội hoặc báo cáo thu nhập chịu thuế với một khoản thấp hơn, khó kiểm soát và ghi chép sự khác biệt về thuế sổ sách trong báo cáo tài chính. Một mặt, các phương pháp ít tốn kém nhất trong quản lý thu nhập sẽ được ghi lại một sự khác biệt giữa thuế sổ sách và không báo cáo thu nhập được quản lý trong thu nhập chịu thuế để tiết kiệm thuế bằng tiền mặt, mặt khác, nếu chênh lệch thuế sổ sách cung cấp thông tin cho thị trường về việc quản lý thu nhập thì việc ghi chép chênh lệch thuế sổ sách có thể giảm độ tin cậy báo cáo thu nhập.
Hoặc, hành động né tránh thuế là việc chuyển một lượng giá trị từ chính phủ đến cổ đông (Desai và Dharmapala, 2009). Hoặc, né tránh thuế là hành vi tận dụng hợp pháp quy định của chế độ thuế hiện hành, để giảm lượng thuế đáng lý ra phải nộp. Các nhà cầm quyền thường gặp nhiều khó khăn trong việc xác định cơ sở tính thuế, vì họ thường phải đối mặt với chi phí khi đánh thuế, họ cố gắng né tránh chi phí này bằng cách bỏ qua những cách thức tốn thời gian và khó khăn từ các quy định pháp luật khó hiểu để chuyển đến những người chịu thuế theo cách đơn giản hơn. Thường họ không quan sát các hoạt động kinh tế theo cách thức nó vận hành, họ chỉ làm việc trên những thông tin được ghi chép về hoạt động đó (ví dụ như báo cáo thuế).
Và vì vậy, mặc dù thuế được cho là được đánh trên các hoạt động kinh tế, nhưng thực tế được đánh dựa trên nền tảng các thông tin trong báo cáo cung cấp. Thêm vào đó, các thông tin trên báo cáo mà các nhà cầm quyền nhận được thường là từng phần, không trực tiếp, và mang tính chất quá khứ. Các nhà cầm quyền thường đợi hết một chu kỳ tính thuế mới đòi hỏi xem báo cáo thuế (Pasternak và Rico, 2008). Nhìn chung, né tránh thuế được hiểu theo cách truyền thống là các chính sách chuyển nguồn tài chính từ chính phủ sang các cổ đông, và vì thế là tăng giá trị sau thuế của công ty.
Tuy nhiên, không phải lúc nào né tránh thuế cũng làm tăng giá trị công ty sau thuế, nó có thể làm giảm giá trị công ty trong một số trường hợp cộng hưởng với các chi phí liên quan trực tiếp đến việc lên kế hoạch thuế của công ty, chẳng hạn như chi phí thích nghi, chi phí đại diện (Wang, 2010). 9 Có nhiều nghiên cứu đặt ra câu hỏi rằng, tại sao một số doanh nghiệp lại tránh thuế nhiều hơn những doanh nghiệp khác? Các nhà nghiên cứu lý giải hành động này theo nhiều cách khác nhau; ví dụ như: dựa vào các đặc tính của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động, quy mô, tuổi doanh nghiệp,. Một số khác lại lý giải dựa trên cấu trúc sở hữu, đặc điểm tổ chức như lập luận của Graham và Tucker (2006) , Desai và Dharmapala (2005, 2006, 2009). Trong nghiên cứu này, khác biệt giá trị sổ sách của thuế (BTD) dẽ được sử dụng để đo lường hành vi né tránh thuế.
Khác biệt giá trị sổ sách của thuế là sự khác biệt giữa thu nhập được công bố ra thị trường vốn và thu nhập báo cáo cho cơ quan thuế. Việc gia tăng né tránh thuế dẫn đến hai quan điểm về hậu quả của hành động này: Thứ nhất, né tránh thuế được hiểu như việc gia tăng các ưu đãi khác về thuế; thứ hai, việc này liên quan đến chi phí đại diện, nó như một một công cụ che đậy cho các nhà quản trị “cơ hội” và chênh lệch với lợi nhuận thực. Theo quan điểm đầu tiên, né tránh thuế là hoạt động tận dụng các ưu đãi về thuế, chẳng hạn như sử dụng nợ theo Graham và Tucker (2006). Quan điểm này cho rằng, né tránh thuế có thể thay thế cho sử dụng nợ, vì vậy nên có mối quan hệ nghịch biến với chi phí sử dụng nợ, và mối quan hệ này có thể càng mạnh hơn khi tỷ lệ sở hữu tổ chức cao theo kết quả nghiên cứu của Lim (2011).
Quan điểm thứ hai nhấn mạnh sự tương quan giữa né tránh thuế và chi phí đại diện, né tránh thuế có thể là một tấm chắn che đậy các hành động làm chênh lệch lợi nhuận thực của các nhà quản lý. Nhìn chung, né tránh thuế là việc doanh nghiệp tận dụng các quy định hợp pháp của pháp luật để giảm thiểu tối đa lượng thuế phải nộp, khác biệt với việc trốn thuế là cung cấp thông tin sai lệch để hạn chế lượng thuế phải nộp cho Chính phủ. Né tránh thuế và trốn thuế Sự khác nhau trong hành vi né tránh thuế và trốn thuế được Agnar Sandmo (2004) trình bày trong nghiên cứu của mình như sau: khác biệt về né tránh thuế và trốn thuế dựa trên tính hợp pháp trong hành vi người đóng thuế. Trốn thuế là hành vi chống lại pháp luật: khi người đóng thuế cố không báo cáo thu nhập có nguồn gốc 10 phải chịu thuế, họ xúc tiến các hoạt động phi pháp làm cho họ phải chịu sự quản lý của pháp luật.
Khi tránh thuế theo hình thức này, họ lo ngại về khả năng các hành động của mình có thế bị phát hiện. Né tránh thuế, ngược lại, là hoạt động nằm trong khuôn khổ quy định của luật thuế. Đó là sự tận dụng các quy định của luật thuế để giảm nghĩa vụ thuế phải nộp, bằng cách chuyển hóa thu nhập lao động thành thu nhập vốn, để chịu mức thuế thấp hơn. Khi thực hiện né tránh thuế, người chịu thuế không phải lo lắng về khả năng bị phát hiện.
Nếu né tránh thuế là hợp pháp, thì đâu là sự khác biệt giữa né tránh thuế và phản ứng ngược làm thuế tăng bởi hiệu ứng giá lên cung và cầu? Giả sử du lịch hàng không bị đánh thuế cao, làm hành khách chuyển sang du lịch bằng xe lửa, hoặc gia tăng biên độ thuế thu nhập lao động làm người lao động chuyển nhiều thời giờ làm việc sang nghỉ ngơi. Như vậy có phải là hành vi né tránh thuế hay không? Định nghĩa đơn giản của né tránh thuế là tập trung vào ý đồ của nhà làm luật để giảm phần thuế phải chịu. Với định nghĩa này, thì hiệu ứng giá không được phân loại vào né tránh thuế. Từ các khái niệm về né tránh thuế, có thể thấy né tránh thuế khác biệt với hành vi trốn thuế.
Né tránh thuế là một hoạt động hợp pháp nhằm tận dụng các quy định của pháp luật để tối thiểu hóa lượng thuế phải nộp, không phải là hành vi chiếm đoạt ngân sách Nhà nước vi phạm pháp luật. Chính sách nợ Hay còn gọi là chính sách tài trợ, là quyết định các hình thức tăng vốn để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.