CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ TRỊ THÍCH HỢP CỦA THÔNG TIN KẾ TOÁN 1.1 Tổng quan về các nghiên cứu trên thế giới về GTTH Các nghiên cứu trước đây trên thế giới đã quan tâm nhiều về GTTH ở một số phương diện nhất định. Điển hình là một số nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố tác động đến GTTH, các nghiên cứu xem xét về sự thay đổi của GTTH theo thời gian và một số nghiên cứu tìm hiểu về ảnh hưởng của việc áp dụng các báo cáo đến GTTH. GTTH mặc dù không phải là vấn đề mới nhưng vẫn được nhiều tác giả quan tâm mở rộng nghiên cứu. Các nghiên cứu với mục tiêu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến GTTH.
Điển hình, Collins và các cộng sự (1997) đã tiến hành nghiên cứu những thay đổi về yếu tố thu nhập (TN) và GTSS ảnh hưởng đến GTTH theo thời gian. Nghiên cứu được thực hiện từ năm 1953 đến 1993 tại Mỹ, cùng với việc tập hợp các dữ liệu của 115.154 DN trên Sàn Giao dịch Chứng khoán New York, Sàn Giao dịch Chứng khoán Mỹ. Bằng cách sử dụng phương pháp định lượng, bài viết kết hợp cùng hai mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy TN và GTSS có tác động tích cực đến giá cổ phiểu.
Đồng thời nhân tố TN và GTSS đã ảnh hưởng theo hướng tích cực đến GTTH theo thời gian. Nghiên cứu còn có những đề xuất trong tương lai về việc xem xét sự tác động của TN và GTSS đến giá cổ phiếu giữa các ngành nghề khác nhau. Abiodun (2012) đã tìm hiểu về mức độ ảnh hưởng của GTTH tại 40 công ty thuộc các lĩnh vực khác nhau ở Nigeria trong khoảng thời gian từ năm 1999 đến năm 2009. Thông qua việc sử dụng phương pháp thống kê mô tả cùng với mô hình hồi quy logarit để làm rõ mục tiêu nghiên cứu.
Qua đó cho thấy LN có tác động tích cực đến GTTH hơn GTSS. Đồng thời nghiên cứu còn đề xuất một số chính sách nhằm nâng cao GTTH qua việc xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ; quản trị công ty và khuyến khích những thay đổi tích cực, sáng tạo. Chandrapala (2013) đã tiến hành nghiên cứu nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của quy mô DN, LN và GTSS đến GTTH. Nghiên cứu đã thu thập dữ liệu của 882 công ty được niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK) Colombo tại Sri Lanka từ năm 2005 đến năm 2009.
Thông qua phương pháp 6 định lượng hồi quy dữ liệu, nghiên cứu phát hiện ra rằng LN và GTSS ít tác động đến GTTH trong khi đó những công ty quy mô lớn có mức độ tác động đến GTTH nhiều hơn so với công ty với quy mô nhỏ. Camodeca và các cộng sự (2014) đã thực hiện nghiên cứu GTTH với việc tham chiếu đến hai TTCK khác nhau giữa Anh và Ý. Thời gian nghiên cứu vào năm 2011 - 2013, với mẫu nghiên cứu 100 công ty, 50 công ty được niêm yết trên SGDCK Ý và 50 công ty được niêm yết trên SGDCK Luân Đôn. Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, nghiên cứu sử dụng sáu mô hình hồi quy khác nhau.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở Vương quốc Anh, dòng tiền có sự tác động lớn hơn thu nhập, trong khi ở Ý thì ngược lại. Bên cạnh đó, hệ thống kế toán của Ý theo truyền thống dựa trên tính tối cao của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và báo cáo tình hình tài chính trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ, trong khi Vương quốc Anh luôn chú trọng đến dòng tiền hơn là các giá trị kế toán khác. Pervan và Bartulovic (2014) với mục tiêu nghiên cứu nhằm phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến GTTH. Nghiên cứu dựa trên việc thu thập dữ liệu của 97 DN niêm yết SGDCK Ljubljana, SGDCK Zagreb, SGDCK Sarajevo, Banja, SGDCK Luka và SGDCK Belgrade trong thời gian từ năm 2005 đến năm 2010.
Bài viết đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và xác định hai biến độc lập bao gồm GTSS và LN. Kết quả nghiên cứu cho thấy cả hai biến đều có tác động tích cực đến GTTH của các TTCK được quan sát lấy mẫu. Trong đó, GTSS có tác động nhiều đến GTTH hơn yếu tố LN. Onali và các cộng sự (2017) với việc thực hiện nghiên cứu 2.860 CTNY ở châu Âu từ năm 2005 đến năm 2013.
Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định mô hình đo lường GTTH hiệu quả. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng và ước tính hai mô hình hồi quy, cụ thể mô hình hồi quy giá (PRM) và mô hình hồi quy lợi nhuận (RRM). Phân tích cho thấy tầm quan trọng của mô hình hiệu ứng cố định trong ước tính PRM và RRM. Kết quả nghiên cứu thể hiện rằng việc thay đổi các tác nhân như quốc gia, ngành có thể làm ảnh hưởng đến các hệ số.
Đồng thời, nghiên cứu còn cho thấy đối với mô hình PRM, BVPS có tác động tích cực đến P hơn EPS và đối với mô hình RRM, cổ tức trên mỗi cổ phiếu có ảnh hưởng cùng chiều đến biến phụ thuộc. Batistella và các cộng sự (2021) đã tiến hành nghiên cứu nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của sự khác biệt văn hóa đến GTTH. Nghiên cứu đã lựa chọn 15.902 công ty thuộc 30 quốc gia từ năm 2015 7 đến năm 2017, với những quốc gia có tổng sản phẩm quốc nội cao nhất. Nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu, nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả, hồi quy tuyến tính.
Qua đó kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng GTTH được nâng cao ở các công ty tại các quốc gia có đặc điểm văn hóa tập thể. Đồng thời khẳng định yếu tố văn hóa có ảnh hưởng tích cực đến GTTH. Hossain (2021) đã thực hiện nghiên cứu về sự ảnh hưởng của GTTH đến giá cổ phiếu trên thị trường. Nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2019 tại 16 công ty dược phẩm được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Dhaka của Bangladesh.
Thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng, kết quả nghiên cứu cho thấy sự tương quan giữa cổ tức và giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu đối với giá cổ phiếu. Đồng thời nghiên cứu còn xác định được sự ảnh hưởng tiêu cực của EPS đến giá trị thị trường trên mỗi cổ phiếu. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn cho thấy sự tác động tích cực của cổ tức tiền mặt trên mỗi cổ phiếu và cổ tức trên mỗi cổ phiếu đối với giá cổ phiếu. Từ đó nghiên cứu đưa ra kết luận về tầm quan trọng của GTTH đến việc ra quyết định của người sử dụng thông tin.
Suhendra và các cộng sự (2022) đã tiến hành nghiên cứu với 91 công ty phi tiền tệ ở Indonesia và Thái Lan trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017. Nghiên cứu này tìm hiểu về hiệu quả của các giao dịch phái sinh trong việc quản lý thu nhập và điều này tác động đến GTTH. Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, kết quả nghiên cứu thể hiện rằng quản lý thu nhập có tác động tiêu cực đến GTTH. Bên cạnh đó, khi so sánh về quốc gia, các giao dịch phái sinh có ảnh hưởng tiêu cực đến quản lý thu nhập tại Thái Lan, trong khi đó Indonesia thì ngược lại.
Khomidah và Setiawan (2022) với mục tiêu nghiên cứu về sự tác động giữa GTTH và thị trường vốn của 82 ngân hàng tại các nước Indonesia, Singapore, Thái Lan, Philippines và Malaysia. Nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2019. Thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng, kết quả nghiên cứu cho thấy EPS và BVPS có ảnh hưởng tích cực đến giá cổ phiếu. Qua đó, nghiên cứu còn gợi ý chính sách giúp thu hút nguồn vốn đầu tư thông qua việc nâng cao GTTH trong BCTC.
Các nghiên cứu xem xét sự thay đổi của GTTH theo thời gian. Tiêu biểu, Lam và các cộng sự (2013) đã tìm hiểu những thay đổi về GTTH giữa các công ty tại Trung Quốc 8 trong hai thập kỷ. Nghiên cứu đã tập hợp các dữ liệu về giá và LN của 11.199 công ty tại TTCK Trung Quốc từ năm 1994 đến 2008. Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng và thông qua bốn mô hình để đo lường mức độ ảnh hưởng của GTTH bao gồm TN; bảng cân đối kế toán (BCĐKT); GTSS và TN; các khoản phải trả và dòng tiền.
Nghiên cứu cho thấy, thông tin về TN có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Bên cạnh đó, GTTH về BCĐKT tăng lên trong khi đó mối quan hệ giữa TN và GTSS giảm dần trong khoảng thời gian nghiên cứu. Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy không có sự thay đổi đáng kể về GTTH trong mô hình các khoản phải trả và dòng tiền. Barth và các cộng sự (2021) với mục tiêu nghiên cứu về sự ảnh hưởng của GTTH khi nền kinh tế chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế dịch vụ và công nghệ thông tin.
Nghiên cứu được thực hiện từ năm 1962 đến 2014 với 323 CTNY tại Mỹ. Thông qua cách tiếp cận cây phân loại và hồi quy - Cart, cùng với việc kết hợp nhiều TTKT như TN; GTSS vốn chủ sở hữu; chỉ số ngành; chi phí nghiên cứu và phát triển; chi phí quảng cáo; tài sản vô hình; tiền mặt và các khoản đầu tư ngắn hạn; tăng trưởng doanh thu; dòng tiền hoạt động; doanh thu; thu nhập toàn diện khác; cổ tức; nguồn vốn; giá vốn; chi phí và tổng tài sản. Nghiên cứu cho thấy GTTH không bị suy giảm. Trong đó các thông tin liên quan đến tài sản vô hình, cơ hội tăng trưởng là những thông tin rất quan trọng trong quá trình chuyển đổi của nền kinh tế.
Đồng thời, nghiên cứu còn nhận thấy mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và TTKT phản ánh giá trị vốn cổ phần trong nền kinh tế mới. Các nghiên cứu tìm hiểu về tác động của việc áp dụng các báo cáo đến GTTH. Đơn cử, Kargin (2013) với việc xác định mức độ ảnh hưởng trước và sau khi áp dụng IFRS đến GTTH với 1.954 CTNY tại SGDCK Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 1998 đến năm 2011. Bằng cách sử dụng mô hình Ohlson (1995) với GTTT liên quan đến GTSS và LN.
Nghiên cứu cho thấy, GTTH đã được cải thiện trong giai đoạn sau khi áp dụng IFRS khi xem xét GTSS, trong khi đó LN không có sự cải thiện sau khi áp dụng IFRS. Nghiên cứu giải thích rằng do việc sử dụng giá trị hợp lý khi áp dụng IFRS dẫn đến việc đo lường được chính xác và thực tế hơn. Baboukardos và Rimmel (2016) đã tiến hành nghiên cứu về GTTH khi áp dụng báo cáo tích hợp (IR).