phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 5 chƣơng. Chƣơng 1: Tổng quan về các nghiên cứu trƣớc Chƣơng 2: Cơ sở lý luận Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC 1.1 Công trình nghiên cứu trên thế giới Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự tiến bộ của công nghệ thông tin đã đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa. Thế giới hiện tại là “thế giới phẳng”, các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới ra đời, sự đa dạng hóa các lĩnh vực kinh doanh trong các công ty đã có những tác động mạnh mẽ tới việc lập và trình bày báo cáo tài chính của họ. Báo cáo tài chính vừa phải đáp ứng đƣợc nhu cầu về thông tin đến từ các nhà quản trị doanh nghiệp giúp họ có những quyết định phù hợp với tính hình hoạt động kinh doanh.
Bên cạnh đó BCTC cũng phải cung cấp những thông tin hữu ích cho các nhà đầu tƣ trong việc quyết định đầu tƣ vốn… Từ những yêu cầu cần tìm hiểu sâu hơn về báo cáo tài chính, đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về BCBP, các nghiên cứu này có khuynh hƣớng thảo luận về nội dung của chuẩn mực mới so với nội dung của chuẩn mực cũ trƣớc đây và tiến hành các cuộc khảo sát thực nghiệm tại các quốc gia trên thế giới về các yếu tố cũng nhƣ ảnh hƣởng của chúng tới việc trình bày BCBP. - Đầu tiên phải nhắc tới S. Weetman (2004) đã khảo sát dữ liệu của 87 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Athens (Hi Lạp) trong năm 1997 là thị trƣờng vốn mới nổi để kiểm tra mức độ ảnh hƣởng của các biến độc lập gồm: quy mô công ty, cấu trúc sở hữu, mức sinh lời, khả năng thanh toán, ngành, lợi tức, tình trạng niêm yết tới việc công bố thông tin tự nguyện với mô hình: VDij = β0+ β1 Size + β2 Gearing + β3 Profitability+ β4 Liquidity+ β5 Consumer Product + β6 Industrial Product + β7 Share Return + β8Listing Status + uiji Bằng phƣơng pháp phân tích đa biến, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô và tình trạng niêm yết có ảnh hƣởng mạnh tới việc công bố thông tin tự nguyện của các công ty. - Tiếp theo hai tác giả Mishari M.
Alfaraih và Faisal S. Alanezi (2011) đã khảo sát 123 công ty niêm yết năm 2008 nhằm đánh giá mức độ trình bày báo cáo bộ phận của các công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Kuwait. Với các biến độc lập: 7 quy mô công ty, chất lƣợng kiểm toán, thời gian niêm yết, cấu trúc sở hữu, mức sinh lời, đòn bẩy tài chính, mức tăng trƣởng, ngành và biến phụ thuộc mức độ công bố thông tin trên báo cáo bộ phận. Mức độ công bố thông tin dựa trên các yêu cầu bắt buộc của IAS 14 (Segment Reporting) với mô hình nghiên cứu: Y = β0 + β1 (size) + β2 (audit quality) + β3 (age) +β4 (ownership diffusion) + β5 (profitability) + β6 (leverage) + β7 (growth) + β8-11 (industry 1-4) + ε Bằng phƣơng pháp thống kê mô tả, kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ tuân thủ quy định về BCBP trung bình là 56%, cụ thể dao động từ 18% đến 94%.
Với mô hình hồi quy đa biến, các tác giả kết luận rằng các công ty có quy mô lớn, hoạt động lâu năm, có đòn bẩy tài chính cao, có khả năng sinh lợi lớn và việc kiểm toán đƣợc thực hiện bởi các công ty kiểm toán thuộc nhóm Big 4 có mức độ trình bày thông tin bộ phận cao hơn các công ty khác. Trong khi đó mức độ phân tán quyền sở hữu và sự tăng trƣởng không tác động tới việc trình bày thông tin trong báo cáo bộ phận. Tác giả khảo sát mức độ tác động của các biến tổng tài, sản, tỷ suất sinh lời, hệ số nợ, sự phân tán vốn chủ sở hữu, tỷ lệ tăng trƣởng, hệ số rủi ro, thông qua việc thu thập dữ liệu của 64 công ty niêm yết tại Italia với mô hình nghiên cứu: VoluntSDSi = β0 + β1TAt (tổng tài sản) + β2ROIt (lợi nhuận/vốn đầu tƣ) + β3LEVt (hệ số nợ) + β4OWNt (Sự phân tán vốn chủ sở hữu) + β5GROWTHt (tỷ lệ tăng trƣởng) + β6BETAt (hệ số rủi ro) + εo Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng 75% các công ty niêm yết tại Italia không thay đổi cách trình bày các thông tin bộ phận khi áp dụng chuẩn mực mới. Việc chuyển đổi từ IAS 14R (IAS 14 Revised) sang IFRS 8 (Operating Segments) chỉ có 16% các công ty tăng số lƣợng thông tin trình bày BCBP, thậm chí có 9% các công ty giảm số lƣợng thông tin trình bày.
Điểm tích cực chủ yếu của IFRS 8 là phƣơng pháp quản trị nhƣng phƣơng pháp này chỉ mới thể hiện đƣợc trên lý thuyết. Kết quả nghiên cứu cho thấy 8 rằng quy mô công ty và mức sinh lời là hai yếu tố có ảnh hƣởng đến việc trình bày BCBP. - Ngoài ra 2 tác giả P. Isabel Morais (2010), thông qua việc thu thập báo cáo thƣờng niên năm 2009 của 150 công ty niêm yết tại Tây Ban Nha, các tác giả xác định các yếu tố nhƣ quy mô công ty, tình trạng niêm yết, chủ thể kiểm toán, tỷ suất sinh lời, hệ số nợ, biến giả và xem xét ảnh hƣởng của các yếu tố này đến việc trình bày BCBP và khảo sát mức độ tuân thủ việc trình bày BCBP theo IFRS 8 của các công ty niêm yết này với mô hình nghiên cứu: DCSi = β 0+ β1SIZEi + β2LISTi + β3AUDITi + β4ROAi + β5LEVi + β6IBEXi + e Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng 79% các công ty niêm yết tại Tây Ban Nha tuân thủ việc trình bày BCBP theo lĩnh vực kinh doanh.
Chỉ có một tỷ lệ nhỏ là 7,6% các công ty không trình bày BCBP do các công ty này chỉ có duy nhất một bộ phận. Đối với các nhân tố ảnh hƣởng tới mức độ công bố thông tin, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng quy mô doanh nghiệp càng lớn càng trình bày nhiều thông tin về BCBP hơn, khả năng sinh lợi càng cao mức độ trình bày BCBP càng thấp nhằm hạn chế chi phí cạnh tranh. - Nhóm ba tác giả gồm Low Lock Teng, Kevin, Mazlina Mat Zain (2001), bằng phƣơng pháp thống kê mô tả, các tác giả khảo sát 168 Công ty trên sàn chứng khoán Kuala Lumpur trong giai đoạn từ năm 1995 – 1999. Các tác giả nghiên cứu mức độ ảnh hƣởng của quy mô công ty, hệ số nợ, hiệu suất sử dụng tài sản, sự biến động của thu nhập tới mức độ công bố thông tin trên báo cáo bộ phận.
Nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ có quy mô và hiệu suất sử dụng tài sản có ảnh hƣởng tới việc công bố thông tin trên báo cáo bộ phận của công ty. Công trình nghiên cứu trong nƣớc Trong nƣớc có các nghiên cứu liên quan đến việc trình bày và công bố thông tin trên báo cáo bộ phận, tiêu biểu nhƣ: - Nguyễn Thị Phƣơng Thúy (2010) - “Hoàn thiện báo cáo bộ phận trong kế toán Việt Nam theo hƣớng phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế”. Luận văn đã chọn mẫu 118 doanh nghiệp niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam có BCTC niêm yết năm 2010. Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ giữa khả năng sinh lời của doanh nghiệp với việc trình bày thông tin BCBP.
Những công ty có khả năng sinh lời thấp sẽ sẵn sàng cung cấp nhiều thông tin về BCBP hơn. Bằng phƣơng pháp thống kê mô tả và kiểm định các giả thiết, luận văn đã đƣa ra nhiều bất cập và hạn chế, các công ty lập BCBP đa phần chỉ nhằm mục đích đối phó với quy định của chuẩn mực, chƣa thật sự nhằm mục đích đánh giá đúng tình hình thực tế của doanh nghiệp. Từ thực trạng trên tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng trình bày thông tin bộ phận cho các doanh nghiệp. - Trần Thị Thúy An (2013) - “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện trình bày và công bố báo cáo bộ phận của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.
Bằng việc khảo sát BCTC của 288 công ty niêm yết năm 2012, nghiên cứu đã xác định các nhân tố có ảnh hƣởng đến việc trình bày BCBP theo VAS 28 đồng thời mô tả chi tiết lý do các doanh nghiệp không công bố thông tin bộ phận. Với biến phụ thuộc là chất lƣợng BCBP và số lƣợng BCBP, còn biến độc lập là quy mô công ty, mức độ phân tán quyền sở hữu, công ty kiểm toán, đòn bẩy tài chính và tỉ suất sinh lời. Kết quả kiểm định cho thấy có sự tƣơng quan thuận chiều giữa quy mô công ty với chất lƣợng công ty kiểm toán và đòn bẩy tài chính. Sự tƣơng quan ngƣợc chiều giữa tỷ lệ quyền sở hữu của cổ đông nhỏ với chất lƣợng công ty kiểm toán và đòn bẩy tài chính.
Đồng thời, có sự tƣơng quan ngƣợc chiều giữa tỷ suất sinh lời và đòn bẩy tài chính. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nhiều giả thuyết đã bị bác bỏ, tác giả đã nhận định rằng “các nhân tố tác động lên số lƣợng và chất lƣợng báo cáo bộ phận theo các giả thuyết 10 của các nghiên cứu thực nghiệm trƣớc đây đã không đƣợc hỗ trợ trong trƣờng hợp xem xét ảnh hƣởng của chúng lên việc lập và trình bày báo cáo bộ phận tại Việt Nam theo VAS 28 trong năm 2012”. Nghiên cứu đã kết luận những nguyên nhân tồn tại trong việc thực thi VAS 28 cũng nhƣ những hạn chế cần đƣợc cải tiến trong khuôn khổ pháp lý ở Việt Nam nhằm nâng cao chất lƣợng và số lƣợng thông tin về BCBP. - Bùi Lê Thái Bình (2015), “Đánh giá các nhân tố tác động đến việc trình bày báo cáo bộ phận của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoánTp.
Hồ Chí Minh”. Bằng việc khảo sát 140 Doanh nghiệp có trình bày BCBP trên sàn chứng khoán Tp. HCM năm 2014, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các nhân tố tác động lên số lƣợng và chất lƣợng BCBP theo các nghiên cứu trƣớc đây đã không đƣợc hỗ trợ. Đồng thời tác giả có những đề xuất nhằm hoàn thiện quy định pháp lý về lập và trình bày BCBP tại Việt Nam.
Từ các nghiên cứu của các tác giả ở trong nƣớc và quốc tế về mức độ công bố thông tin trên báo cáo bộ phận, tác giả tổng hợp lại theo bảng 1.1 Tổng hợp các nghiên cứu trƣớc về báo cáo bộ phận STT Nghiên cứu Kết quả nghiên cứu I. Nghiên cứu quốc tế 1 S.