PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc được tổ chức ở Rio de Janeiro vào năm 1992 đã có một chương trình nghị sự toàn cầu cho thế kỷ XXI, theo đó, phát triển bền vững (PTBV) là: “Một sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế hệ tương lai”. Quan niệm về PTBV trên bình diện quốc tế có được sự thống nhất chung đó là phát triển dựa trên ba mục tiêu chính gồm PTBV về kinh tế (KT); xã hội (XH) và về môi trường (MT). Tương ứng với ba mục tiêu vừa nêu, nội dung thông tin PTBV gồm thông tin KT, thông tin MT và thông tin XH.
Cùng với các thông tin liên quan đến quản trị hoạt động kinh doanh và quản trị tài chính doanh nghiệp (DN), thì thông tin về PTBV ngày càng được các bên liên quan (BLQ) như nhà đầu tư, khách hàng, cơ quan quản lý, … quan tâm, đòi hỏi các DN phải minh bạch, công khai, và công bố để đánh giá hiệu quả và trách nhiệm xã hội (TNXH), MT trong hoạt động của DN (Sumiani và cộng sự, 2007). Công bố thông tin (CBTT) về PTBV không chỉ giúp DN củng cố hình ảnh (lợi ích bên ngoài) mà còn đem lại những thay đổi mang tính định hướng cho các hoạt động của DN (lợi ích bên trong) (H. Yekini, 2014, Usman và Amran, 2015). Kết quả của nhiều nghiên cứu trước cũng cho thấy DN nào quản lý tốt khía cạnh bền vững thì thường thành công về mặt tài chính, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động (HQHĐ) của DN (Pajuelo Moreno, 2019).
Do đó, ngày càng có nhiều DN quyết định CBTT PTBV bằng nhiều hình thức công bố khác nhau như công bố tích hợp thông tin trong báo cáo thường niên (BCTN), công bố trên trang thông tin điện tử của DN hay CBTT một cách độc lập thông qua báo cáo PTBV. Đối với bối cảnh các nước đang phát triển, số lượng quốc gia và số lượng tổ chức từ các quốc gia công bố báo cáo PTBV ngày càng tăng, riêng ở châu Á từ năm 2014 đến năm 2019 đã tăng 531 tổ chức CBTT PTBV (V. Các giá trị mà thông tin về PTBV mang lại cho DN đã góp phần thu hút sự chú ý của các học giả tiến hành nghiên cứu về mảng đề tài này. Kết quả đã có nhiều công trình về CBTT PTBV được thực hiện, như nghiên cứu thực trạng CBTT PTBV (Fifka, 2013; Châu Thị Lệ Duyên và Huỳnh Trường Thọ, 2015; Carmo và Ribeiro, 2022, Carnini Pulino 2 và cộng sự, 2022…), về các nhân tố ảnh hưởng đến CBTT PTBV (Adam, 2002; Campbell, 2007; Muthuri và Gilbert, 2011; Akhtaruddin và cộng sự, 2009; Platonova và cộng sự, 2018; …), và về ảnh hưởng của CBTT PTBV đến hiệu quả của DN (Reverte, 2012; Trang và Yekini, 2014; Usman và Amran, 2015; Hà Thị Thủy, 2020, …).
Kết quả cho thấy phần lớn các công trình về PTBV, CBTT PTBV tập trung ở các nước phát triển nhiều hơn là nước đang phát triển (Carnini Pulino và cộng sự, 2022). Riêng tại Việt Nam (VN), đối với các DN chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán (TTCK), hiện chưa có hướng dẫn cụ thể, và quy định về bắt buộc CBTT nói chung và thông tin PTBV nói riêng. Còn đối với các DN niêm yết (DNNY) trên TTCK thì sự ra đời của Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 06 tháng 10 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn CBTT trên TTCK và mới đây là thông tư 96/2020/TT-BTC về hướng dẫn CBTT trên TTCK thay thế thông tư 155/2015/TT-BTC thì việc CBTT KT, XH, MT trong báo cáo thường niên là bắt buộc đối với các DN này, tuy nhiên, thông tin PTBV công bố ra bên ngoài còn rải rác, chưa tập trung, chưa rõ ràng, thiếu tính chuẩn hoá. Urquiza và công sự (2009) cũng nhấn mạnh rằng trong tương lai cần phải nghiên cứu thêm về các yếu tố quyết định/ ảnh hưởng đến CBTT và hậu quả của việc CBTT vì điều này có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng chỉ số CBTT.
Về các nhân tố ảnh hưởng đến CBTT PTBV, kết quả của các nghiên cứu trước đã chia thành ba nhóm chính gồm nhân tố thuộc về bối cảnh chung (như quy định pháp lý, văn hóa quốc gia,…); các nhân tố thuộc về bối cảnh nội bộ của DN (phong cách lãnh đạo, đặc điểm văn hóa tổ chức, sự nhận thức của nhà quản lý (NQL) về PTBV, cam kết của NQL đối với PTBV, chiến lược PTBV chủ động,…); và nhân tố thuộc về đặc điểm DN (quy mô DN, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, đặc điểm quản trị DN, số lượng thành viên HĐQT, chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc, lĩnh vực hoạt động của DN,…) (Waris và cộng sự, 2017). Các học giả sử dụng đa dạng các lý thuyết nền như lý thuyết áp lực các BLQ (Huang và Kung, 2010; Michelon và Parbonetti, 2012; Chiu và Wang, 2015; …), lý thuyết hợp pháp (Haniffa và cộng sự, 2005; Sukhonos và Makarenko, 2017; …) nhằm giải thích lý do, động lực, hay các nhân tố tác động đến CBTT. Nhưng Aguinis và ctg (2012); Frynas (2016) cho rằng nghiên cứu về các yếu tố bối cảnh nội bộ ảnh hưởng đến CBTT PTBV vẫn chưa được chú trọng, do đó, họ kêu gọi cần có nhiều nghiên cứu trong tương lai nên tập trung 3 vào vấn đề này. Kế đến, CBTT PTBV bao gồm ba khía cạnh KT, XH và MT, nhưng theo tìm hiểu của tác giả, phần lớn các công trình hiện nay tập trung nhiều hơn vào khía cạnh thông tin XH mà nguyên nhân có thể xuất phát từ việc báo cáo thông tin XH là giai đoạn đầu tiên của quá trình hình thành báo cáo PTBV.
Ngành thủy sản là ngành KT quan trọng trong nền KT VN (Hoang, 2021). Dịch Covid-19 ảnh hưởng nghiêm trọng tới mọi lĩnh vực của nền KT nói chung cũng như ngày thủy sản nói riêng, nhưng nhờ những thành công lớn trong việc phòng chống dịch bệnh, duy trì hoạt động SXKD mà tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2021 ước tính tăng 2,56% so với năm 2020. Trong mức tăng chung của toàn nền KT, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,27%, đóng góp 15,7% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền KT. Sản lượng thủy sản năm 2021 ước đạt 8.792,5 nghìn tấn, tăng 1,8% so năm 2020.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 4.855,4 nghìn tấn, tăng 2,5%; trong đó sản lượng cá nuôi trồng ước đạt 3.300 nghìn tấn, tăng 1,1%; sản lượng tôm nuôi trồng ước đạt 996,3 nghìn tấn, tăng 5,5%. Sản lượng thủy sản khai thác biển năm 2021 ước tính đạt 3.740,2 nghìn tấn, tăng 1,1% (Niên giám thống kê, 2021). Nhưng, bên cạnh những thành tựu nêu trên, ngành thủy sản vẫn đang bộc lộ nhiều tồn tại, bất cập như khai thác thủy sản biển đang giảm dần hoạt động khai thác ven bờ, kém hiệu quả nhằm bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản biển, thiếu trách nhiệm với sản phẩm, xử lý MT, áp lực của các vấn đề XH trong kinh doanh, … Từ năm 2021 ngành thủy sản bước vào một giai đoạn mới, ngành đặt ra nhiều định hướng, mục tiêu phát triển mới, đặc biệt là đề án phát triển ngành chế biến thủy sản giai đoạn 2021-2030 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã đặt rõ mục tiêu, phát triển chế biến thủy sản VN theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững, đáp ứng được nhu cầu, quy định của thị trường tiêu thụ; nâng cao năng lực cạnh tranh và tiếp tục hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu; phấn đấu đưa VN trở thành trung tâm chế biến thủy sản và đứng trong số 5 nước hàng đầu thế giới vào năm 2030. Như vậy, với nhu cầu phát triển và đòi hỏi chất lượng ngày càng cao, hoạt động của ngành thủy sản cần có sự tham gia của nhiều BLQ, điều này đã làm mối quan hệ giữa các chủ thể trong ngành ngày càng chặt chẽ hơn.
Một số đặc thù riêng của DN khai thác, chế biến thủy hải sản tác động đến MT nói riêng 4 cũng như đến KT và XH trong mô hình PTBV nói chung của DN cũng được quan tâm nhiều hơn từ phía cơ quan chức năng, khách hàng, nhân viên, tổ chức tín dụng,… như thông tin rác thải từ hoạt động nuôi trồng; công nghệ và chi phí xử lí rác thải chế biến; công ăn việc làm từ hoạt động khai thác, chế biến; vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm đối với sản phẩm, các tiêu chuẩn chất lượng để xuất khẩu thủy sản; sản lượng nuôi trồng và đánh bắt; trình độ, phương tiện đánh bắt, nuôi trồng; hoạt động thương mại nguồn nguyên liệu … CBTT PTBV tại VN nói chung hay theo đặc thù nhóm ngành nói riêng là một lĩnh vực còn khá mới mẻ (Lê Anh Tuấn, 2022). Hiện nay, tại VN, theo thông tư 96/2020/TT- BTC của Bộ tài chính về hướng dẫn CBTT trên TTCK các DN đại chúng, DNNY phải bắt buộc CBTT về PTBV bao gồm “thông tin về tổng mức phát thải khí nhà kính (gián tiếp và trực tiếp); và các sáng kiến và biện pháp giảm thiểu phát thải khí nhà kính, quản lý nguồn nguyên liệu, tiêu thụ năng lượng, tiêu thụ nước, tuân thủ pháp luật về bảo vệ MT, chính sách liên quan đến người lao động, báo cáo liên quan đến trách nhiệm với cộng đồng địa phương, báo cáo liên quan đến thị trường vốn xanh”. Tuy nhiên, phần lớn các DN tại VN có quy mô nhỏ và vừa (Thống kê, 2022), do đó các DN này hiện chưa có hướng dẫn về CBTT PTBV hay nói cách khác, nếu DN có CBTT thì đó là CBTT tự nguyện. Nhiều DN chưa có đầy đủ các thông tin về KT và XH hoặc các hoạt động đảm bảo tính bền vững để CBTT.
Việc thiếu các thông tin này có thể dẫn tới mất cơ hội thu hút nguồn vốn từ những nhà đầu tư có chuẩn mực cao về TNXH và MT (Lê Anh Tuấn, 2022). Vùng duyên hải miền Trung là vùng trọng điểm trong khai thác, chế biến thủy hải sản của VN, có tác động rất lớn đến sự phát triển của ngành sản xuất kinh doanh này. Về thực trạng CBTT PTBV đối với các DN khai thác, chế biến thủy hải sản tại vùng này, trường hợp các DNNY trên TTCK thì các thông tin về tác động MT, XH của DN phần lớn được trình bày tích hợp trên BCTN mà ít có DN thực hiện CBTT trên một báo cáo độc lập, còn đối với các DNNVV, các thông tin về KT, XH, MT được trình bày, công bố rãi rác trên nhiều phương tiên khác nhau như mạng XH, tài liệu truyền thông bên ngoài, Hội thảo tập huấn, Website, Hội nghị khách hàng,.