CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1. Tình hình nghiên cứu trong nước Nhìn chung trong nước có rất nhiều đề tài nghiên cứu về quản lý các doanh nghiệp, về phát triển nguồn nhân lực nhưng về năng lực lãnh đạo của doanh nghiệp thì rất ít. Một số đề tài, luận án có nghiên cứu một ý về quản lý có liên quan đến vấn đề quản lý và lãnh đạo trong thời gian qua. Đinh Văn Toàn (2011) luận án “Phát triển nguồn nhân lực của Tập đoàn điện lực Việt Nam đến năm 2015”, Đại Học Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội.
Luận án làm sáng tỏ bản chất và nội dung của phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức điện, trong đó lưu ý mục tiêu cơ cấu nguồn nhân lực trong hoạch định, nhân cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua năng lực các vị trí công tác và coi hoàn thiện tổ chức quản lý là nội dung quan trọng. Bùi Thị Phương Thảo (2007), Luận văn Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp công nghiệp thuộc sở hữu nhà nước ở tỉnh Hà Tây giai đoạn 2007-2020, Đại Học Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội. Luận văn đã nêu được tầm quan trọng của đội ngũ quản lý trong việc phát triển doanh nghiệp, chú trọng đến công tác quản lý doanh nghiệp để đạt được định hướng đã đặt ra, mà chưa nêu được mối quan hệ giữa người lãnh đạo và người dưới quyền. Nguyễn Vĩnh Giang (2004), Luận văn Nâng cao năng lực của cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp quốc doanh ở Hà Nội, Đại Học Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội.
Luận văn đã nêu được năng lực của cán bộ quản lý, đánh giá cán bộ quản lý và vai trò cán bộ quản lý đến quyết định đến sự phát triển của các doanh nghiệp.Nguyễn Mậu Dựng (1996), Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng các cấp ở Tây Nguyên. Nguyễn Duy Hùng (1999-2002), Đào tạo bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, thành phố trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay - PGS.TS Nguyễn Phú Trọng (2003) Luận cư khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước. - Nguyễn Kim Thành: Giải pháp đào tạo cán bộ lãnh đạo nữ người dân tộc thiếu số, Tạp chí xây dựng Đảng (Số 7), năm 1998. Các nghiêm cứu trên đi sâu vào nghiêm cứu vai trò quản lý của người quản lý, chưa đề cập đến nhiều đến vai trò lãnh đạo trong con người quản lý ảnh 5 hưởng đến nhân viên, và tầm nhìn phát triển doanh nghiệp của một nhà lãnh đạo và một nhà quản lý có sự khác nhau như thế nào? 1.
Tình hình nghiên cứu nước ngoài Lãnh đạo là một chủ đề được quan tâm hàng ngàn năm nay, nhưng những nghiên cứu về lãnh đạo chỉ mới bắt đầu từ đầu thế kỷ 20, phần lớn các nghiên cứu chú trọng đến nghiên cứu hiệu quả lãnh đạo. Nhiều nhà nghiên cứu về hành vi giải thích người lãnh đạo về phẩm chất, năng lực hành vi, cơ sở tạo ra quyền lực và những yếu tố tình huấn xác định khả năng của người lãnh đạo trong việc ảnh hưởng đến người khác và đạt đến mục tiêu của tổ chức. Các nghiên cứu về lãnh đạo có thể phân loại với các cách tiếp cận như sau: (1) Quyền lực và sự ảnh hưởng; (2) Phẩm chất; (3) Hành vi (phong cách) (4) Tình Huống; (5) Người lãnh đạo mới về chất (lãnh đạo hấp dẫn) 1. Quyền lực và ảnh hưởng Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra được nỗ lực ảnh hưởng người này lên người khác có thể rảy ra 3 kết cục: (1) Sự tích cực, nhiệt tình tham gia; (2) Sự tuân thủ, phục tùng; (3) Sự kháng cự, chống lại.
Quyền lực của một người lãnh đạo có trên cơ sở sau: Quyền lực vị trí * Quyền hạn chính thức. * Sự kiểm soát đối với các nguồn lực và phần thưởng. * Kiểm soát đối với sự trừng phạt * Sự kiểm soát đối với thông tin. * Sự kiểm soát môi trường.
Quyền lực cá nhân * Tài năng chuyên môn. * Sự thân thiện/ sự trung thành. * Sức hấp dẫn, lôi cuống. Quyền lực chính trị * Sự kiểm soát đối với quá trình ra quyết định.
* Sự liên minh * Sự kết nạp. * Việc thể chế hóa.Phẩm chất Năm 1948, Stogdill đã tổng kết một số phẩm chất lặp đi lặp lại có tương quan với việc thực hiện các vai trò của nhà lãnh đạo bao gồm: - Sự thông minh. - Hiểu biết nhu cầu của người khác. - Hiểu biết nhiệm vụ.
6 - Chủ động và kiên trì trong việc giải quyết các vấn đề. - Mong muốn có trách nhiệm. - Mong muốn nắm giữ vị trí thống trị và kiểm soát. Rõ ràng các nghiên cứu ở đầu thế kỷ đã chỉ ra rằng có một sự khác biệt giữa những người lãnh đạo và những người không phải lãnh đạo ở một số phẩm chất như đã kể trên.
Song Stogdill cũng cho rằng phẩm chất thể hiện một sự tương quan với sự thành công, song các phẩm chất trên không phải là điều kiện cần và cũng không phải là điều kiện đủ để bảo đảm sự thành công. Tổng kết thứ 2 của Stogdill vào năm 1974 về các phẩm chất và kỹ năng của các nhà lãnh đạo thành công được thể hiện ở Bảng 1.1 Phẩm chất và kỹ năng của các nhà lãnh đạo thành công Chẩp chất Kỹ Năng * Thích ứng. * Tài giỏi, thông minh. * Am hiểu môi trương xã hội.
* Tham vọng và định hướng thành tựu. * Ngoại giao và lịch thiệp. * Có tin thần hợp tác. * Diễn đạt thông tin.
* Có khả năng hiểu biết về nhiệm * Đáng tin cậy. vụ của nhóm. * Thống trị (có nhu cầu cao trong việc * Kỹ năng tổ chức. ảnh hưởng và kiểm soát người khác).
* Kỹ năng thuyết phục. * Kỹ năng xã hội. * Chịu được sự căng thẳng. * Sẵn lòng nhận trách nhiệm.
Tổng kết của Stogdill đã cho chúng ta thấy những phẩm chất và kỹ năng nhất định sẽ làm tăng khả năng của sự thành công song chúng không bảo đảm sự thành công và tầm quan trọng của các phẩm chất là phụ thuộc vào tình huống lãnh đạo cụ thể.Phong cách lãnh đạo Kurt Lewin và cộng sự của ông đã tiến hành thực nghiệm so sánh và đưa ra phong cách: Độc đoán, dân chủ, tự do. Phong các độc đoán: Người lãnh đạo nắm bắt tất cả các thông tin và quan hệ, tập trung quyền lực trong tay. Cấp dưới chỉ được cấp trên cung cấp thông tin tối thiểu, cần thiết để thực hiện nhiệm vụ. 7 Phong các dân chủ: Người lãnh đạo thu hút đông đảo người lao động tham gia vào việc thảo luận, xây dựng và lựa chọn các phương án quyết định cũng như giải quyết những nhiệm vụ của đơn vị.
Bản thân lãnh đạo chỉ giải quyết những vấn đề lớn, những vấn đề còn lại giao cho cấp dưới. Phong cách tự do: Người lãnh đạo tham gia ít nhất vào các công việc của nhóm, giao hết quyền hạn và trách nhiệm cho mọi người và họ được hành động theo điều họ nghỉ và cho là tốt nhất.Lãnh đạo theo tình huống * Robert Tannenbaun và Warren Schmit cho rằng người lãnh đạo có thể lựa chọn một trong bảy hành vi lãnh đạo khả thi giữa hai thái cực độc đoán và dân chủ và sự lựa chọn phụ thuộc vào các biến sau: - Những áp lực từ người lãnh đạo: Bao gồm hệ thống giá trị, đặc tính cá nhân, năng lực trình độ những kinh nghiệm của người lãnh đạo. - Những áp lực của người dưới quyền: Bao gồm mức độ của nhu cầu độc lập của người dưới quyền, sự sẵn lòng nhận trách nhiệm trong việc tham gia vào việc ra quyết định, những hứng thú và quan tâm của họ đối với việc giải quyết vấn đề. - Những áp lực từ tình huống: Bao gồm những yếu tố của văn hóa tổ chức, mức độ vững chắc của nhóm, sức ép của thời gian hay tính cấp bách của giải quyết vấn đề, hệ thống đãi ngộ và động viên trong tổ chức.
* Thuyết của Fred Fiedler hay còn gọi thuyết ngẫu nhiên: Mô hình này cho rằng không có một phương thức lãnh đạo nào là tối ưu. Thay vì đó sự hiệu quả của lãnh đạo đạt được theo từng hoàn cảnh. Mô hình của Fiedler đã cung cấp bằng chứng để thấy rằng hiệu quả trong phong cách lãnh đạo cần phải tương ứng với những nhân tố tình huống. Mối quan hệ giữa nhà lãnh đạo – thành viên: Điều này được xác định thông qua mức độ tin tưởng và tự tin giữa nhà lãnh đạo và các thành viên.
Một lãnh đạo được tin tưởng và có sức ảnh hưởng trong nhóm, chính là một người có khả năng kiểm soát tình huống tốt hơn những người không có đặc điểm này. Cấu trúc công việc: Điều này liên quan đến loại hình công việc: rõ ràng và có cấu trúc nhất định hay không rõ ràng và cấu trúc không cố định. Quyền lực vị trí: Nếu nhà lãnh đạo có càng nhiều quyền hạn về tuyển dụng, sa thải, kỷ luật, đề bạt và tăng tiền lương thì khả năng kiểm soát tình huống của lãnh đạo càng tốt. 8 Mỗi một tình huống của sự lãnh đạo được đánh giá theo ba biến tình huống này.
Sự kết hợp những biến tình huống này tạo ra 8 tình huống cụ thể mà một nhà lãnh đạo có thể tự xác định được Bảng 1.2 Các tình huống có thể của người lãnh đạo TÌNH HUỐNG I II III IV V VI VII VIII Quan hệ Lãnh đạo – Tốt Tốt Tốt Tốt Xấu Xấu Xấu Xấu thành viên Cấu trúc công việc Rõ Rõ Chưa Chưa Rõ Rõ Chưa Chưa Quyền lực địa vị Mạnh Yếu Mạnh Yếu Mạnh Yếu Mạnh Yếu * Paul Hersey và Ken Blanchard đã phát triển một mô hình lãnh đạo thành công kết hợp giữa phong cách nhà lãnh đạo và tình huống cụ thể. Nhà lãnh đạo định ra vai trò và yêu cầu nhân viên phải làm những gì, khi nào làm, làm như thế nào và ở đâu cho những nhiệm vụ khác nhau. Nhà lãnh đạo đưa ra cả những lời chỉ dẫn và hỗ trợ họ. Nhà lãnh đạo và nhân viên cùng nhau bàn bạc đưa ra quyết định, vai trò chính của người lãnh đạo là tạo điều kiện thuận lợi và truyền tải thông tin.
Nhà lãnh đạo cung cấp ít ít lời chỉ dẫn và sự hỗ trợ 1.