CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐÁNH GIÁ RỦI RO CÓ SAI SÓT TRỌNG YẾU CỦA KIỂM TOÁN 1. Trọng yếu và rủi ro có sai sót trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính: 1. Khái niệm về trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính: Trong một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán viên đảm nhiệm trọng trách quan trọng đó là đưa ra ý kiến nhận xét đảm bảo hợp lý rằng số liệu báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán, xét trên phương diện tổng thể, có còn không tồn tại những sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không. Để đạt được sự đảm bảo hợp lý này, khi lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên cần phải lập mức trọng yếu có thể chấp nhận được đối với các sai sót phát hiện trong quá trình kiểm toán.
Cụ thể, để hiểu được vấn đề, trước hết cần nghiên cứu về khái niệm trọng yếu và mức trọng yếu. Khái niệm trọng yếu và mức trọng yếu theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 320 (VSA 320): “Trọng yếu là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin (một số liệu kế toán) trong báo cáo tài chính. Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính” và “Mức trọng yếu là một mức giá trị do kiểm toán viên xác định tùy thuộc vào tầm quan trọng và tính chất của thông tin hay sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Mức trọng yếu là một ngưỡng, một điểm chia cắt chứ không phải là nội dung của thông tin cần phải có.
Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính.” Như vậy, mức trọng yếu trong các quy định chung về lập và trình bày BCTC cần được hiểu như sau: – Những sai sót, bao gồm cả việc bỏ sót, được coi là trọng yếu nếu những sai sót này, tính đơn lẻ hoặc tổng hợp, được xem xét ở mức độ hợp lý, có thể gây ra những ảnh hưởng nhất định tới quyết định kinh tế của người sử dụng BCTC. – Những xét đoán về mức trọng yếu được thực hiện trong từng trường hợp cụ thể và bị ảnh hưởng bởi quy mô hay bản chất của sai sót hoặc tổng hợp của cả hai yếu tố. SV: Nguyễn Minh Trang 4 GVHD: TS. Hoàng Thị Hồng Vân Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng – Những xét đoán về các vấn đề trọng yếu đối với người sử dụng BCTC cần phải tính đến đa số những người có nhu cầu sử dụng thông tin trên BCTC, như các nhà đầu tư, ngân hàng, chủ nợ,… KTV không cần phải cân nhắc đến những ảnh hưởng có thể có của các sai sót đến một sô ít người sử dụng thông tin trên BCTC mà nhu cầu của họ có thể có khác biệt so với phần lớn những người sử dụng cùng BCTC.
Khái niệm về rủi ro có sai sót trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính: Cùng với việc đánh giá trọng yếu thì đánh giá rủi ro kiểm toán cũng là một bước quan trọng nhất trong kiểm toán BCTC. Vì rủi ro kiểm toán gắn liền với trách nhiệm của KTV nên việc hiểu và quản lý tốt rủi ro là yếu tố hạn chế rủi ro của các công ty kiểm toán. Rủi ro kiểm toán được phân loại như sau: Hình 1.1: Phân loại rủi ro kiểm toán Nguồn: Tác giả tự tổng hợp. Cụ thể, đi sâu vào tìm hiểu về rủi ro có sai sót trọng yếu, theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 (VSA 200): “Rủi ro có sai sót trọng yếu: Là rủi ro khi báo cáo tài chính chứa đựng những sai sót trọng yếu trước khi kiểm toán.” Rủi ro có sai sót trọng yếu có thể tồn tại ở hai cấp độ: Cấp độ tổng thể báo cáo tài chính và cấp độ cơ sở dẫn liệu của các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh.
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315 (VSA 315): “rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ BCTC là những rủi ro có ảnh hưởng lan tỏa đến nhiều khoản mục trên BCTC và có ảnh hưởng tiềm tàng đến nhiều cơ sở dẫn liệu. Các rủi ro này có thể không phải là rủi ro có thể phát hiện được với các cơ sở dẫn liệu cụ thể tại các nhóm giao dịch, số dư tài khoản hoặc thông tin thuyết minh. Các rủi ro này đại diện cho các SV: Nguyễn Minh Trang 5 GVHD: TS. Hoàng Thị Hồng Vân Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng tình huống có thể làm tăng rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu, ví dụ, Ban Giám đốc khống chế kiểm soát nội bộ.
Các rủi ro ở cấp độ BCTC có thể liên quan đến việc xem xét của KTV đối với rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận. Rủi ro ở cấp độ BCTC có thể xuất phát từ khiếm khuyết của môi trường kiểm soát (mặc dù các rủi ro này cũng có thể liên quan đến các yếu tố khác, như tình hình kinh tế suy giảm). Ví dụ, sự thiếu năng lực của Ban Giám đốc có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đối với BCTC, do vậy, KTV cần phải có biện pháp xử lý tổng thể đối với rủi ro này.” Rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu là những rủi ro phản ánh khả năng xảy ra sai sót trọng yếu liên quan đến một cơ sở dẫn liệu cụ thể của một khoản mục hay thông tin trình bày trên báo cáo tài chính. Cũng theo VSA 315: “Kiểm toán viên cần xem xét rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu đối với các nhóm giao dịch, số dư tài khoản, thông tin thuyết minh vì điều này sẽ hỗ trợ trực tiếp cho việc xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo ở cấp độ cơ sở dẫn liệu cần thiết để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp.
Khi xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu, kiểm toán viên có thể kết luận rằng rủi ro đã xác định có ảnh hưởng lan tỏa hơn đối với tổng thể báo cáo tài chính và ảnh hưởng tiềm tàng đến cơ sở dẫn liệu.” Ngoài ra, tại cấp độ cơ sở dẫn liệu, rủi ro có sai sót trọng yếu được chia thành hai bộ phận: – Rủi ro tiềm tàng: Là rủi ro tiềm ẩn, vốn có, do khả năng cơ sở dẫn liệu của một nhóm giao dịch, số dư tài khoản hay thông tin thuyết minh có thể chứa đựng sai sót trọng yếu, khi xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, trước khi xem xét đến bất kỳ kiểm soát nào có liên quan. – Rủi ro kiểm soát: Là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu, khi xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, đối với cơ sở dẫn liệu của một nhóm giao dịch, số dư tài khoản hay thông tin thuyết minh mà kiểm soát nội bộ của đơn vị không thể ngăn chặn hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời. Thông qua khái niệm có thể thấy, rủi ro tiềm tàng tồn tại khách quan ngay trong nội tại doanh nghiệp, không phụ thuộc vào công việc kiểm toán của KTV. Rủi ro kiểm SV: Nguyễn Minh Trang 6 GVHD: TS.
Hoàng Thị Hồng Vân Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng soát là một loại rủi ro luôn luôn tồn tại do những hạn chế vốn có của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán. Như vậy, kiểm toán viên không thể tạo ra, không thể kiểm soát được hai loại rủi ro này mà chỉ có thể củng cố sự hiểu biết sâu sắc, toàn diện và đầy đủ về thực trạng hoạt động cũng như hệ thống kế toán và KSNB của đơn vị được kiểm toán để có thể đưa ra xét đoán, đánh giá đúng đắn về hai loại rủi ro này. Từ đó, thiết lập được mức trọng yếu, xác định được quy mô của sai sót như thế nào được coi là trọng yếu. Việc vận dụng này được thực hiện trong mọi giai đoạn của cuộc kiểm toán từ giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán đến đánh giá ảnh hưởng của các sai sót phát hiện được trong quá trình thực hiện kiểm toán và khi hoàn thành kiểm toán, lên báo cáo kiểm toán.
Mối quan hệ giữa mức trọng yếu và rủi ro có sai sót trọng yếu: Trước hết, nói đến mối quan hệ giữa các loại rủi ro thể hiện qua Mô hình rủi ro kiểm toán: AR = IR x CR x DR Trong đó: AR: Rủi ro kiểm toán IR: Rủi ro tiềm tàng CR: Rủi ro kiểm soát DR: Rủi ro phát hiện Từ mô hình trên ta thấy, rủi ro kiểm toán xuất phát từ các sai lệch tiềm ẩn trong BCTC (rủi ro tiềm tàng) đã vượt qua KSNB của đơn vị (rủi ro kiểm soát) và không bị KTV phát hiện (rủi ro phát hiện). Do vậy, mối quan hệ của mức trọng yếu và rủi ro kiểm soát cũng chính là mối quan hệ của mức trọng yếu với từng loại rủi ro nêu trên. Theo VSA 320 về tính trọng yếu trong kiểm toán, trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đó là mối quan hệ tỷ lệ nghịch. Nếu mức trọng yếu càng cao thì rủi ro kiểm toán càng thấp và ngược lại.
Tức là, khi mức trọng yếu cao thì khả năng sai sót có thể chấp nhận cũng lớn, độ chính xác của thông tin không yêu cầu cao. Điều này giảm rủi ro của cuộc kiểm toán. Còn đối với mức trọng yếu thấp thì khả năng sai sót có thể chấp nhận được giảm, khi đó thông tin cần chính xác cao hơn. Lúc SV: Nguyễn Minh Trang 7 GVHD: TS.
Hoàng Thị Hồng Vân Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng này rủi ro của cuộc kiểm toán tăng vì khi mức độ cho phép sai sót càng ít tức là yêu cầu độ chính xác của thông tin trên BCTC càng cao. Như vậy, việc đánh giá mức trọng yếu có ý nghĩa rất lớn đối với việc đánh giá rủi ro. Sau khi đánh giá mức trọng yếu trên toàn bộ BCTC và các nhóm giao dịch, số dư tài khoản, thông tin thuyết minh, kiểm toán viên sẽ có cơ sở trợ giúp cho quá trình đánh giá rủi ro trên phương diện BCTC, các nhóm giao dịch, số dư tài khoản, thông tin thuyết minh. Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro có sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính: 1.