chương 1 tác giả trình bày về một số nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu được công bố ở nước ngoài và trong nước. Từ đó, xác định các khe hổng nghiên cứu để làm cơ sở chứng minh tính cấp thiết khi lựa chọn đề tài nghiên cứu. Đề tài nghiên cứu được lựa chọn với mục tiêu góp phần nâng cao hiệu quả kiểm toán nội bộ tại các đơn vị thuộc khu vực công tại Việt Nam. Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam tập trung nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm toán nội bộ bằng nghiên cứu định lượng hướng đến xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm toán nội bộ và kiểm định sự phù hợp của mô hình tại các đơn vị thuộc khu vực công ở Việt Nam.
15 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Ở chương này tác giả trình bày tổng quan chung về các khái niệm liên quan đến tổ chức công và vai trò của các tổ chức này đối với sự phát triển của một quốc gia. Sau đó tác giả trình bày tổng quan chung về kiểm toán nội bộ, các lý thuyết nền vận dụng xuyên suốt quá trình nghiên cứu. Cuối cùng tác giả dựa vào những nghiên cứu trước đây để đưa ra mô hình nghiên cứu.1 Các khái niệm liên quan đến tổ chức công: 2.1 Định nghĩa đơn vị công của các tổ chức ở Việt Nam và trên thế giới: Theo quy định tại Điều 9 Luật Viên Chức: “ Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà Nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước.” Theo Derbyshire (1987), khu vực công (Public sector) được hiểu là một số cơ quan vận hành để điều tiết các hoạt động của con người để cho loài người có thể sống và làm việc cùng nhau một cách hợp lý nhất có thể. Đối với Hiệp hội kế toán viên Michigan (1990) thì khu vực công là bất kỳ thực thể nào do trung ương, bang hay chính phủ địa phương sở hữu và được thành lập theo luật pháp, đồng thời những tổ chức này phải có trách nhiệm trình bày báo cáo tài chính hàng năm cho quốc hội phê duyệt.
Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD (2008) đã định nghĩa: “ Khu vực công bao gồm khu vực nhà nước nói chung cộng với các công ty quốc doanh, kể cả ngân hàng trung ương”. Theo Liên Hiệp Quốc (2008), khu vực công bao gồm “Chính phủ nói chung và các công ty quốc doanh”. Theo định nghĩa này, “Chính phủ nói chung” là một khái niệm đề cập đến những tổ chức nhà nước được thành lập theo các quy trình của Hiến pháp có quyền lập pháp, tư pháp và hành pháp. Một số tổ chức phi lợi nhuận cũng nằm trong định nghĩa này nhưng đòi hỏi các điều kiện cụ thể như phải do nhà nước kiểm soát.
Ví dụ như mức độ sử dụng kinh phí nhà nước, chịu rủi ro, bổ nhiệm 16 cán bộ và các thỏa thuận pháp lý. Ngoài ra, cũng nằm trong khu vực công là các công ty quốc doanh như đường sắt, hàng không, công ích, tài chính, không chỉ phải được chính phủ quản lý mà còn phải được chính phủ quyết định đường lối và chính sách chung. Liên đoàn kế toán Châu Âu (FEE) đã sử dụng định nghĩa của Liên Hiệp Quốc về khu vực công để củng cố một cách bền vững các chính sách của mình áp dụng cho khu vực công (ACCA, 2010). Tương tự như Liên Hiệp Quốc, Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (2001) đã định nghĩa: “Khu vực công bao gồm chính phủ nói chung (Cơ quan trung ương, cơ quan nhà nước, cơ quan địa phương) và các công ty quốc doanh (công ty quốc doanh tài chính do chính phủ quản lý, các công ty phi tài chính quốc doanh và công ty quản lý tiền tệ quốc doanh như ngân hàng trung ương và các công ty tài chính phi tiền tệ quốc doanh” Còn dựa vào Từ điển Longman of Contemporary English (2012) thì khu vực công được hiểu là toàn bộ các ngành công nghiệp hoặc dịch vụ trong một quốc gia mà được sở hữu và quản lý bỡi nhà nước, chẳng hạn như giáo dục, y tế hay giao thông vận tải.
Như vậy, từ các định nghĩa trên có thể hiểu khu vực công là một khái niệm được dùng để xác định một tập hợp gồm có các cơ quan quản lý nhà nước của quốc gia, các tổ chức và doanh nghiệp công và cả hệ thống ngân hàng trung ương. Đây được xem là một thành phần cơ bản và không thể thiếu của nền kinh tế và cuộc sống xã hội. Thông qua khu vực này, chính phủ chịu trách nhiệm chính và thực hiện việc phân phối hàng hóa và dịch vụ công đến mọi miền đất nước. Nói cách khác, khu vực công được xem là một bộ phận hoặc một thành phần của nền kinh tế có liên quan đến việc cung cấp sản phẩm công cơ bản.2 Vai trò của khu vực công Thứ nhất, hướng đến sự phát triển kinh tế: hiện nay, một tỷ trọng không nhỏ tại các nước thì sự phát triển kinh tế phụ thuộc khá lớn vào sự phát triển của các ngành công nghiệp cơ bản và công nghiệp nặng, chẳng hạn như sắt, thép, vận tải biển, khai thác mỏ… bởi những ngành này sẽ cung cấp nguyên liệu thô cho các doanh nghiệp 17 vừa và nhỏ.
Để vận hành được những doanh nghiệp trong lĩnh vực này thì cần một lượng vốn khổng lồ và điều này chỉ có thể được tài trợ bỡi hệ thống tài chính khu vực công của chính phủ. Thứ hai, hướng đến sự phát triển vùng, khu vực: các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân thường sẽ bỏ quan sự quan tâm đối với những vùng nghèo khó hoặc lạc hậu, nhưng đối với các đơn vị công thì lại được giao hoàn thành đầy đủ các nhiệm vụ trên tất cả mọi vùng trong cả nước. Bằng cách này, khu vực công giúp giảm dần và hướng đến loại bỏ sự mất cân bằng giữa các khu vực và mang lại sự phát triển chung cho quốc gia. Thứ ba, tạo việc làm: các khu vực công thì cũng cần một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức làm việc với số lượng không nhỏ.
Ngoài ra, khu vực công cũng cần tuyển dụng nhân sự với đa dạng trình độ khác nhau. Điều này sẽ cung cấp một lượng việc làm khá lớn cho các cá nhân trong xã hội. Thứ tư, không vì mục đích lợi nhuận: các tổ chức trong khu vực công đang hoạt động trong nhiều lĩnh vực, cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công cho xã hội mà không có sự quan tâm, cân nhắc đến mức lợi nhuận mà tổ chức phải đạt được. Thứ năm, bảo vệ một số rủi ro cơ bản trong quá trình hoạt động: một số ngành nghề mang tính chất đặc thù do điều kiện vật chất, cơ sở hạ tầng cũng như nguồn vốn nên một số lĩnh vực đòi hỏi sự độc quyền nhất định.
Đồng thời, một số rủi ro cơ bản trong hoạt động sẽ được nhà nước, chính phủ có thể đảm bảo.2 Tổng quan về kiểm toán nội bộ 2.1 Sự phát triển của kiểm toán nội bộ Kể từ khi Việt Nam áp dụng chính sách mở cửa, cùng với hoạt động Kiểm toán độc lập, Kiểm toán nội bộ hình thành và phát triển từ rất sớm trên thế giới, nó ra đời, tồn tại và phát triển xuất phát từ tự thân đơn vị, từ yêu cầu của người quản lý. Lịch sử hình thành và phát triển của KTNB gắn với quá trình nhận thức của người quản lý đối với vấn đề kiểm soát và quản lý. Vì vậy, từ thế kỷ trước KTNB đã được hình thành như một công cụ quan trọng và hữu hiệu của nhà quản lý trong các đơn vị. Tuy nhiên, nó chỉ thực sự được công nhận như một nghề nghiệp hiện đại từ những 18 năm 40 (nhất là từ những năm 60) của thế kỷ XX.
Viện Kiểm toán nội bộ (The Institute of Internal Auditors - IIA - Tổ chức này là thành viên của Liên đoàn kế toán Quốc tế - IFAC và Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao - INTOSAI) được thành lập năm 1941 tại New York và sự phát triển nhanh chóng của hoạt động KTNB ở các nước Châu Âu vào những năm 60 của thế kỷ XX đã chứng tỏ điều đó. Tuy nhiên, kiểm toán nội bộ vẫn chỉ là một khái niệm mới ở Việt Nam mặc dù vẫn tồn tại bộ phận kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp nhà nước lớn. Thực tế rất nhiều nhà quản lý chưa quen thuộc với khái niệm kiểm toán nội bộ và chưa nhận thức được tầm quan trọng của bộ phận này (lookatvietnam, 2009). Rất nhiều bộ phận kiểm toán nội bộ ở các Tổng công ty, Tập đoàn nhà nước đóng vai trò như một chức năng kiểm tra của bộ phận kế toán.
Ngạc nhiên hơn, các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước có xu hướng loại bỏ chức năng kiểm toán nội bộ và sử dụng kiểm toán độc lập như là một sự đảm bảo góp phần cải thiện hoạt động của họ (ktcvietnam n. Chính vì vậy, nhận thức về kiểm toán nội bộ đang trở nên cần thiết không chỉ cho ban giám đốc, nhà quản lý mà còn chính cho bộ phận kiểm toán nội bộ và các bộ phận khác có liên quan. Kiểm toán nội bộ ra đời nhằm thoả mãn các yêu cầu quản lý của các doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và cả những tổ chức phi lợi nhuận, trước hết trong các đơn vị, các tổ chức thuộc thị trường chứng khoán, ngân hàng, khu vực công và ở các công ty đa quốc gia. Các công trình nghiên cứu cho rằng, trước tiên KTNB ra đời là do các nhà quản lý trong các Công ty cổ phần nhận thấy rằng việc kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm do kiểm toán viên độc lập thực hiện chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cho quá trình kiểm soát và quản lý cũng như ngăn chặn kịp thời những rủi ro, gian lận có thể phát sinh.
Sau đó, Uỷ ban giao dịch chứng khoán các nước đòi hỏi các nhà quản lý ở Công ty cổ phần có niêm yết giá ở thị trường chứng khoán phải có trách nhiệm cao hơn về độ tin cậy báo cáo tài chính công bố, nên chính bản thân các nhà quản lý ở các Công ty này đã mở rộng và nâng cao vai trò, trách nhiệm của KTNB.