Chương 1 trình bày tóm tắt các nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu về chất lượng KTĐL và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng KTĐL được công bố trong và ngoài nước. Các nghiên cứu được tổng hợp nhiều khía cạnh như: các biến đưa vào mô hình, phương pháp nghiên cứu, số lượng mẫu, đối tượng khảo sát, cũng như kết quả của mô hình nghiên cứu. Qua đó, tác giả xác định lỗ hổng nghiên cứu để làm cơ sở chứng minh cho tính cấp thiết khi lựa chọn đề tài Luận văn. Chương tiếp theo sẽ trình bày các khái niệm liên quan đến KTĐL và chất lượng KTĐL, cơ sở lý thuyết nền và chọn lọc các biến độc lập đại diện cho các nhân tố liên quan đến bên cung cấp dịch vụ kiểm toán ảnh hưởng đến chất lượng KTĐL tại thành phố Hồ Chí Minh.
123doc 14 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 sẽ trình bày một số vấn đề chung về KTĐL và CLKT, Khuôn mẫu của Ủy ban Chuẩn mực kiểm toán Quốc tế (IAASB) về CLKT. Tiếp đến, sẽ giới thiệu các cơ sở lý thuyết có liên quan đến các nhân tố tác động đến CLKT như: Lý thuyết Ủy nhiệm, Lý thuyết Cung cầu. Cuối cùng, đánh giá các nhân tố liên quan đến bên cung cấp dịch vụ kiểm toán ảnh hưởng tới chất lượng KTĐL để đưa vào mô hình nghiên cứu.1 Tìm hiểu về kiểm toán độc lập và chất lượng kiểm toán 2.1 Kiểm toán độc lập và hoạt động kiểm toán độc lập Theo Điều 5, Luật Kiểm toán độc lập (2011): “Kiểm toán độc lập là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mình về báo cáo tài chính và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán”. Hoạt động KTĐL là hoạt động kiểm toán rất phổ biến và gắn liền với quá trình phát triển kinh tế.
Hoạt động KTĐL nhằm mục đích góp phần công khai, minh bạch thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị được kiểm toán và doanh nghiệp, tổ chức khác; làm lành mạnh môi trường đầu tư; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng; phát hiện và ngăn chặn vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành kinh tế, tài chính của Nhà nước và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Luật Kiểm toán độc lập, năm 2011, Điều 4). Để thực hiện được mục tiêu của KTĐL, theo Điều 8, Luật Kiểm toán độc lập, năm 2011 cho rằng nguyên tắc hoạt động KTĐL là: (1) Tuân thủ pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp và báo cáo kiểm toán; (2) Tuân thủ chuẩn mực kiểm toán và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Việt Nam; đối với công việc kiểm toán theo hợp đồng kiểm toán mà yêu cầu áp dụng chuẩn mực kiểm toán khác thì phải tuân thủ chuẩn mực kiểm toán đó; (3) Độc lập, trung thực, khách quan; (4) Bảo mật thông tin. 123doc 15 Vì vậy, KTĐL là hoạt động dịch vụ của các DNKT và thu phí từ khách hàng. Do đó, chất lượng kiểm toán luôn là vấn đề quan tâm của nhiều phía từ DNKT đến khách hàng và người sử dụng BCTC.
Hơn nữa, kiểm toán là ngành nghề đặc thù, mang tính chuyên môn cao, nên chất lượng dịch vụ không dễ dàng quan sát hay kiểm tra, đánh giá. Từ đó có thể thấy, nhân tố nào tác động tới CLKT, làm sao để tác động tới các nhân tố đó, và giải pháp ra sao là vấn đề cần được bàn tới.2 Chất lượng kiểm toán Thông tin tài chính phải đáp ứng yêu cầu đáng tin cậy, đầy đủ, kịp thời và đáng tin cậy nhằm đáp ứng các nhu cầu của Người sử dụng. Trên cơ sở đó, các quy định pháp luật và chuẩn mực ban hành bởi các tổ chức nghề nghiệp đặt ra yêu cầu KTV phải đảm bảo sự tin cậy đối với các thông tin tài chính đã được kiểm toán. Điều này đặt ra đòi hỏi các DNKT và KTV phải thực hiện cuộc kiểm toán phù hợp với các tiêu chuẩn phù hợp nhằm đảm bảo rằng “một cuộc kiểm toán chất lượng đã được thực hiện” (Ủy ban Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế (IAASB), 2014).
Qua đó, ta có thể thấy CLKT sẽ được nhìn nhận và đánh giá dưới các góc nhìn khác nhau của đối tượng sử dụng dịch vụ và các DNKT: - Đối tượng sử dụng, gồm khách hàng và Người sử dụng BCTC khác (nhà đầu tư, đối tác, hội nghề nghiệp, công chúng.): CLKT là mức độ thỏa mãn về thông tin đáng tin cậy để phục vụ lợi ích của họ; - Các DNKT: CLKT là đáp ứng được yêu cầu, quy định Chuẩn mực kiểm toán (CMKiT), chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và các quy định pháp luật có liên quan. Theo DeAngelo (1981), CLKT là sự đánh giá của thị trường về khả năng một KTV phát hiện sai sót trọng yếu và báo cáo sai sót trọng yếu. Bên cạnh đó, Copley & Doucet (1993) cho rằng CLKT là mức độ phù hợp với CMKiT. Theo các nghiên cứu được đề cập ở Chương 1, CLKT hình thành do sự tác động của nhiều nhóm nhân tố: KTV, DNKT, các yếu tố bên ngoài và sự tương tác của nhiều đối tượng tham gia quá trình kiểm toán.
CLKT là một thành phần của chất lượng BCTC, bởi vì CLKT cao sẽ tăng độ tin cậy của BCTC. CLKT còn phụ thuộc 123doc 16 vào mức độ tuân thủ CMKiT và khả năng của KTV trong việc phát hiện và đưa ra ý kiến về những sai sót trọng yếu trong BCTC. Do tính đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, KTĐL được xem như một công cụ quản lý kinh tế và chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Tài chính là cơ quan quản lý Nhà nước về kế toán – kiểm toán. Theo nguyên tắc của hoạt động KTĐL (đã đề cập ở mục 2.1) thì một cuộc kiểm toán được đánh giá là có chất lượng, phải đảm bảo tuân thủ các CMKiT, Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và các quy định pháp luật có liên quan được Bộ Tài chính ban hành.
Năng lực của KTV, DNKT thể hiện qua trình độ, kinh nghiệm, quy mô và sự hỗ trợ các công cụ và quá trình kiểm soát, giám sát và sự điều hành hiệu quả của BGĐ DNKT sẽ làm tăng khả năng phát hiện và báo cáo sai sót trọng yếu trên BCTC.2 Khuôn mẫu về chất lượng do IAASB ban hành 2.1 Tìm hiểu chung về IAASB Ngày 03/01/2011, Ủy ban Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế (IAASB) phát hành ấn phẩm “Chất lượng kiểm toán – Một quan điểm của IAASB” (Audit Quality – An IAASB perspective) mô tả các nhân tố đầu vào, nhân tố quá trình, nhân tố đầu ra, nhằm góp phần thực hiện kiểm toán có chất lượng, với sự cam kết trong ngành kiểm toán nói chung và tại các quốc gia nói riêng, cho các cuộc kiểm toán BCTC. Khuôn mẫu cũng đã thể hiện tầm quan trọng của sự tương tác thích hợp cho các bên liên quan cũng như vai trò của nhân tố ngữ cảnh đối với CLKT. Ngày 15/01/2013, IAASB phát hành bản dự thảo về Khuôn mẫu CLKT và thu thập ý kiến phản hồi đến ngày 15/05/2013. Ngày 18/02/2014, IAASB đã phát hành bản chính thức mang tên “Khuôn mẫu chất lượng kiểm toán: Những yếu tố chính tạo nên môi trường cho chất lượng kiểm toán” (A framework Audit Quality.
Key elements that create an environment for Audit Quality). Đây là tài liệu mang tính tư vấn nhằm tạo môi trường thảo luận, trao đổi để đạt được sự cải tiến liên tục của CLKT, và không được dùng thay thế cho các CMKiT, chuẩn mực KSCL và các quy định khác.2 Nội dung chính của Khuôn mẫu do IAASB ban hành Theo Khuôn khổ CLKT (IAASB, 2014), các nhân tố của CLKT bao gồm: Nhân tố đầu vào, Nhân tố quá trình, Nhân tố đầu ra, Nhân tố tương tác, Nhân tố ngữ cảnh. Khuôn mẫu được áp dụng cho 03 cấp độ khác nhau: Cấp độ Nhóm kiểm toán, Cấp độ DNKT, Cấp độ Quốc gia và được mô tả qua hình 2.1 như sau: Hình 2.1 Khung các nhóm nhân tố tác động đến CLKT Nguồn: IAASB, 2014 Nội dung chính của các nhóm nhân tố gồm: [1] Nhân tố đầu vào Các nhân tố đầu vào của CLKT chia làm hai nhóm nhân tố và các thuộc tính chủ yếu đối với mỗi cấp độ như sau: Giá trị, đạo đức và thái độ - Cấp độ nhóm kiểm toán: Cuộc kiểm toán được thực hiện đa số lợi ích công chúng và tầm quan trọng của việc tuân thủ Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp; Thể hiện sự khách quan và trung thực; Tuân thủ các quy định về tính độc lập; Luôn thể hiện thái độ hoài nghi nghề nghiệp. - Cấp độ DNKT: Thiết lập hệ thống chất lượng và KSCL kiểm toán hợp lý nhằm đảm bảo tính độc lập của DNKT; Các tố chất cá nhân cần thiết được khuyến khích thông qua hệ thống đánh giá và khen thưởng; Yếu tố tài chính được xem xét để 123doc 18 không làm suy giảm CLKT; Cung cấp cơ hội phát triển nghề nghiệp và tiếp cận với sự hỗ trợ kỹ thuật cao; Khuyến khích tham khảo ý kiến tư vấn đối với các vấn đề phức tạp; Hệ thống vững chắc cho việc ra quyết định về việc chấp nhận và duy trì khách hàng.
- Cấp độ Quốc gia: Các yêu cầu đạo đức được ban hành nhằm làm rõ hai khía cạnh về nguyên tắc đạo đức cơ bản và các yêu cầu cụ thể được áp dụng; Đảm bảo rằng các nguyên tắc đạo đức được hiểu rõ và được áp dụng một cách nhất quán; Các thông tin liên quan đến việc chấp nhận khách hàng được chia sẻ giữa các DNKT. Kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và thời gian để thực hiện kiểm toán - Cấp độ nhóm kiểm toán: Có trình độ chuyên môn và năng lực cần thiết; Có hiểu biết về hoạt động kinh doanh các khách hàng; Đưa ra ý kiến kiểm toán phù hợp; Tích cực thực hiện các đánh giá rủi ro, lập kế hoạch, giám sát và soát xét các công việc kiểm toán; Thực hiện kiểm toán một cách kỹ lưỡng và được hướng dẫn chi tiết, giám sát và kiểm tra; Có đủ thời gian để thực hiện kiểm toán hiệu quả; Các nhân viên có kinh nghiệm có thể tiếp cận để quản lý và chịu trách nhiệm với BGĐ. - Cấp độ DNKT: Có đủ thời gian để giải quyết các vấn đề phức tạp; Phân công công việc kiểm toán thích hợp; Có đánh giá kịp thời, đào tạo và hướng dẫn đúng việc cho các trợ lý ít kinh nghiệm kiểm toán; Được đào tạo đầy đủ về kế toán, kiểm toán và các lĩnh vực chuyên môn khác.