CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP Như phần trên đã đề cập, các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT là một trong những đề tài được chú ý, thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Hiện nay trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về từng nhân tố riêng biệt hay ảnh hưởng của nhiều nhân tố tới CLKT. Nổi bật một số nghiên cứu như sau: 1. Các nghiên cứu được công bố ngoài nước.
Một số dòng nghiên cứu chính bao gồm: a. Nghiên cứu về ảnh hưởng quy mô của DNKT đến CLKT: Tiêu biểu của dòng nghiên cứu này là: Nghiên cứu của DeAngelo (1981), “Auditor size and Audit quality”. Nghiên cứu này là một trong những nghiên cứu đầu tiên và tiêu biểu về chất lượng của dịch vụ kiểm toán. Theo đó, CLKT được định nghĩa là khả năng KTV (a) phát hiện ra sai phạm trong hệ thống kế toán của khách hàng (b) và báo cáo các sai phạm đó.
Nghiên cứu đề cập đến mối quan hệ giữa CLKT và quy mô của DNKT. Bằng những lập luận chắc chắn, nghiên cứu đã chỉ ra được quy mô DNKT có ảnh hưởng đồng biến đến CLKT; và điều này sẽ làm dẫn đến sự phân biệt đối xử đối với DNKT vừa và nhỏ. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đưa ra khá nhiều các luận điểm về mối quan hệ tương quan của việc tiếp nhận khách hàng kiểm toán có doanh thu cao trong tổng doanh thu của DNKT; việc tiếp nhận khách hàng mới với chi phí ban đầu thấp; hay việc mong đợi giữ chân khách hàng sẽ làm cho KTV có động cơ làm giảm chất lượng trong tương lai. Nghiên cứu về ảnh hưởng của tính độc lập và năng lực của KTV đến CLKT: Tiêu biểu cho dòng nghiên cứu này là: Bài tổng quan về các nghiên cứu của Ling Lin và cộng sự, “Auditor Independence and Audit Quatity: A Literature Review”.
Nghiên cứu này đã tổng hợp nhiều nhân tố đề cập trong các nghiên cứu trước làm tăng nguy cơ giảm thiểu tính độc lập của KTV bao gồm: tầm quan trọng của khách hàng, ảnh hưởng dịch vụ phi kiểm 123doc 7 toán, nhiệm kỳ KTV và mối quan hệ giữa khách hàng và DNKT; và nhân tố ảnh hưởng đến CLKT là: năng lực và tính độc lập của KTV. Chính sự ảnh hưởng lẫn nhau của hai nhân tố này sẽ tác động lên chất lượng của báo cáo tài chính. Thông qua việc tổng hợp khá chi tiết các nghiên cứu trước, tác giả đã kết luận bài nghiên cứu có đầy đủ các bằng chứng chứng minh tồn tại mối quan hệ giữa giữa tính độc lập của KTV và CLKT. Nghiên cứu của Abdul Halim và cộng sự (2014), “Effect of Competence and Auditor Independence or Audit Quality with Audit Time Budget and Professional Commitment as a Moderation Variable” (tạm dịch: “Ảnh hưởng của năng lực, tính độc lập và CLKT thông qua các biến điều tiết quỹ thời gian kiểm toán và hiệp hội hành nghề).
Nghiên cứu đã xem xét tác động của nhân tố năng lực của KTV (thông qua các biến: lập kế hoạch kiểm toán, kiến thức, kinh nghiệm, và giám sát viên), nhân tố tính độc lập của KTV (thông qua biến: tính cạnh tranh trên thị trường kiểm toán, sự phụ thuộc nền kinh tế, dịch vụ phi kiểm toán, hay nhiệm kỳ KTV) đến CLKT (đo lường qua danh tiếng của KTV và khả năng chuyên sâu của KTV). Ngoài ra, nghiên cứu cũng xem xét việc tác động của hai biến kiểm soát khác là quỹ thời gian kiểm toán và hiệp hội ngành nghề. Đối tượng khảo sát của nghiên cứu là 278 khách hàng của DNKT tại Indonesia năm 2012. Kết quả khảo sát cho thấy năng lực làm việc và tính độc lập của KTV đều có ảnh hưởng tích cực đến CLKT; đồng thời biến kiểm soát “Hiệp hội ngành nghề” tác động mạnh đến năng lực KTV; tính độc lập góp phần ảnh hưởng đến CLKT; trong khi biến “quỹ thời gian kiểm toán” có ảnh hưởng không đáng kể.
Nghiên cứu về ảnh hưởng của quy mô DNKT, giá phí kiểm toán và CLKT. Tiêu biểu cho dòng nghiên cứu này là: Nghiên cứu của Stefan và cộng sự (2013), “Audit office size, audit quality and audit pricing: evidence from small and medium-sized enterprises” (tạm dịch: “Quy mô DNKT, CLKT, giá phí kiểm toán- thực nghiệm ở DNKT vừa và nhỏ). Nghiên cứu điều tra mối quan hệ giữa quy mô của DNKT, giá phí kiểm toán đến CLKT để trả lời câu hỏi liệu có sự khác biệt về quy mô và mức phí kiểm toán lên CLKT hay không? Tác 123doc 8 giả đã sử dụng dữ liệu khảo sát liên quan đến các trường hợp bị xử lý kỷ luật được công bố bởi SBPA từ 2005 đến 2009. Mẫu khảo sát gồm 274 trường hợp KTV bị kỷ luật.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có sự khác biệt về CLKT giữa các DNKT lớn (Big 4) và DNKT nhỏ (không thuộc Big 4). Các DNKT nhỏ có ít nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài dẫn đến sự khó khăn hơn trong việc đáp ứng yêu cầu về chất lượng; và nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các tỷ lệ trường hợp xử phạt kỷ luật KTV không làm ở DNKT thuộc Big 4 cao hơn đáng kể so với KTV làm việc trong Big 4. Ngoài ra mức phí của Big 4 cũng cao hơn để đáp ứng về chất lượng cao hơn so với DNKT ngoài Big 4. Cuối cùng, nghiên cứu đi đến kết luận chung rằng các KTV làm việc tại các DNKT nhỏ thường sẽ có mức phí thấp từ đó đưa ra CLKT thấp hơn so với yêu cầu.
Điều này tỷ lệ thuận với mức độ sai sót và các trường hợp kỷ luật của KTV. Nghiên cứu về ảnh hưởng tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT: Tiêu biểu của dòng nghiên cứu này gồm có: Nghiên cứu của Kym Boon, Đại học Macquarie (2007), với nhan đề “Complusory audit tendering and audit quality evidence from Australian local government” (tạm dịch là: Nhiệm kỳ kiểm toán bắt buộc và CLKT- bằng chứng từ công ty nhà nước Úc) , cùng một nghiên cứu mở rộng của Kym Boon và cộng sự (2008), “Audit service quality in compulsory audit tendering, Preparer perceptions and satisfaction” (tạm dịch là Chất lượng dịch vụ kiểm toán trong điều kiện nhiệm kỳ kiểm toán bắt buộc, trên nhận thức của người lập và mức độ thỏa mãn). Mục đích của nghiên cứu là xem xét sự tác động từng nhân tố về kiểm toán lên CLKT, và đánh giá mức độ thực hiện, sự hài lòng với KTV đối với nhân tố CLKT nêu trên. Các nhân tố thuộc chất lượng là các nhân tố đã được đề cập trong các nghiên cứu trước đây, theo đó có 14 nhân tố liên quan CLKT và sự hài lòng của khách hàng về CLKT bao gồm: Kinh nghiệm của công ty và nhóm kiểm toán, tính chuyên sâu trong lĩnh vực kiểm toán, năng lực kỹ thuật, tính độc lập, thận trọng đúng mức, kiểm soát chất lượng, mức độ liên quan của nhân viên cấp cao của DNKT, đạo đức nghề nghiệp, hiệp hội nghề 123doc 9 nghiệp, chuẩn mực đạo đức, thái độ hoài nghi nghề nghiệp, nhiệm kỳ kiểm toán và tính cách của KTV.
Phương pháp khảo sát được thực hiện thông qua gửi bảng câu hỏi đến 235 chuyên gia tài chính người tham gia vào Hiệp hội Tài chính Quốc gia vào tháng 5/2005 và 35 KTV của DNKT được kiểm toán DNNY. Kết quả nghiên cứu đã rút ra được các nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng CLKT và sự hài lòng đến chất lượng dịch vụ kiểm toán. Qua đó, nhóm tác giả đã đưa ra một kết luận quan trọng, nếu các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT được đảm bảo thì cũng sẽ bảo đảm được sự hài lòng của người sử dụng đối với CLKT. Nghiên cứu của Angus Duff (2004), “Auditqual: Dimension of Audit Quality”.
Nghiên cứu đã dựa trên cơ sở định nghĩa của DeAngelo về CLKT và quan điểm chất lượng dịch vụ là phương tiện, công cụ bền vững cung cấp cho khách hàng, nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách hiệu quả. Tác giả đã thiết lập bảng khảo sát gồm 56 câu hỏi về các khía cạnh khác nhau của CLKT dựa trên cơ sở phân tích các thông tin được công bố bên ngoài của 20 DNKT lớn nhất ở Anh, và gửi đến cho 500 đối tượng bao gồm KTV cấp cao tại 16 DNKT lớn nhất nước Anh, và Giám đốc tài chính từ 20 công ty hàng đầu của Mỹ. Kết quả nghiên cứu Duff đã đưa ra nhận được rằng, CLKT hình thành từ cả hai khái cạnh: bao gồm chất lượng dịch vụ và chất lượng chuyên môn. Trong đó có 4 nhân tố thuộc về chất lượng dịch vụ là: khả năng đáp ứng, dịch vụ phi kiểm toán, cảm thông, dịch vụ khách hàng; và 5 nhân tố thuộc về chất lượng chuyên môn là: danh tiếng, quy mô, tính độc lập, kỹ năng, kinh nghiệm.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng phân tích khá chi tiết về các loại khoảng cách kỳ vọng giữa KTV, và người sử dụng BCKT. Nghiên cứu của Lin Ling’s và Tepalagul Nopmanee Kong (2010) chỉ ra rằng: nhân tố ảnh hưởng đến CLKT tập trung vào số lượng các nhân tố đe dọa đến tính độc lập của KTV như: tầm quan trọng của khách hàng, dịch vụ phi kiểm toán, nhiệm kỳ kiểm toán, mối quan hệ giữa khách hàng và KTV. Trong khi đó, theo Robert Knechel et al. (2012) khẳng định: nhiệm kỳ của KTV, nhận thức thị trường về CLKT, mức phí 123doc 10 của dịch vụ phi kiểm toán, áp lực công việc, cùng với kiến thức chuyên môn, hoài nghi nghề nghiệp, chính sách nghề nghiệp, chính sách động viên hỗ trợ nhân viên, giao dịch với khách hàng… là những nhân tố ảnh hưởng CLKT.
Bên cạnh đó, nghiên cứu của Hội đồng báo cáo tài chính Anh (FRC) (2008) chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng CLKT bao gồm văn hóa của DNKT, hiệu quả của quy trình kiểm toán, tính thích hợp và hữu dụng của BCKT, kỹ năng và chất lượng nhân sự, kiểm soát chất lượng bên ngoài. FRC đã tiến hành phân tích chuyên sâu và đưa ra các điều kiện để đánh giá. Như nhân tố liên quan đến văn hóa của DNKT là mức thỏa mãn của KTV dựa trên chính sách tiền thưởng xứng đáng, hay đảm bảo KTV có đủ thời gian và nguồn lực để giải quyết những vấn đề khó khăn. Trong khi các nhân tố khác là tính hiệu quả quy trình kiểm toán được phân tích dựa trên việc thiết kế phương pháp và công cụ kiểm toán, tuân thủ việc thực hiện chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và chuẩn mực kiểm toán, hoặc sự hỗ trợ kỹ thuật… Nghiên cứu của Husam (2013), “Factor affecting the quality of Auditing: The Case of Jordanian Commercial Banks”.