Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ triết học: "Thông tin chính trị - xã hội với việc ra quyết định của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay" tiếp cận vấn đề quản trị xã hội từ góc độ triết học xã hội và lý luận nhận thức mácxit. Trong cấu trúc phát triển xã hội hiện đại, thông tin cùng với con người (Men), máy móc (Machines), vật liệu (Materials) và vốn (Money) được xác định là nguồn tài nguyên cơ bản. Đối với hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) nói chung và cấp cơ sở nói riêng, loại hình thông tin chính trị - xã hội đóng vai trò là căn cứ trực tiếp chi phối việc ra quyết định — khâu trung tâm trong chu trình quản trị.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực tế: việc nghiên cứu thông tin dưới góc độ triết học tại Việt Nam còn tương đối mới mẻ, kinh nghiệm tích lũy của các công trình đi trước chưa nhiều. Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là địa bàn có vị trí chiến lược trọng yếu về chính trị, kinh tế và văn hóa của cả nước, tuy nhiên năng lực tiếp nhận, xử lý các nguồn thông tin chính trị - xã hội phục vụ việc ra quyết định của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tại đây còn bộc lộ nhiều hạn chế. Việc thiếu hụt kỹ năng nhận dạng nhu cầu, định vị nguồn tin, tổ chức, thẩm định và chuyển hóa thông tin thành tri thức dẫn đến chất lượng và tính khả thi của một số quyết định quản lý chưa đáp ứng tốt yêu cầu thực tiễn.
Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn phát huy vai trò của thông tin chính trị - xã hội trong việc ra quyết định của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở vùng đồng bằng sông Hồng; từ đó đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp nhằm phát huy hiệu quả vai trò của loại hình thông tin này trong hoạt động ra quyết định.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 nội dung:
- Thứ nhất, làm rõ bản chất, đặc điểm, vai trò và tầm quan trọng của thông tin chính trị - xã hội trong việc ra quyết định của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở.
- Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng phát huy vai trò thông tin chính trị - xã hội trong việc ra quyết định của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay.
- Thứ ba, đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy có hiệu quả vai trò thông tin chính trị - xã hội trong việc ra quyết định của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là thông tin chính trị - xã hội trong việc ra quyết định của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay. Phạm vi nghiên cứu được xác lập cụ thể:
- Phạm vi không gian: Tập trung vào địa bàn 10 tỉnh, thành phố thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, gồm: Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình.
- Phạm vi đối tượng khảo sát: Đội ngũ cán bộ chủ chốt tại các xã, phường, thị trấn (chủ yếu là các chức danh trưởng, phó của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội).
- Phạm vi thời gian: Khảo sát mốc thời gian từ năm 2001 đến nay (thời điểm triển khai Đề án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước, Quyết định 136/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về cải cách hành chính và Luật Công nghệ thông tin ban hành ngày 29/6/2006).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành phân loại và điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo 3 nhóm chính:
| Nhóm hướng nghiên cứu |
Các tác giả, công trình tiêu biểu |
Nội dung và đóng góp chính |
Hạn chế hoặc khoảng trống luận án tiếp tục giải quyết |
| 1. Cơ sở lý luận về thông tin, thông tin chính trị - xã hội và công nghệ thông tin |
- V. Afanaxep: "Thông tin xã hội và quản lý xã hội" - Levin: "Phát triển bền vững và xã hội thông tin, xu thế, vấn đề, mâu thuẫn" - Lê Thị Duy Hoa: Luận án "Thông tin và vấn đề tiếp nhận xử lý thông tin của tư duy người Việt Nam" - Nguyễn Thị Lan Hương: Luận án "Công nghệ thông tin và tác động của nó đối với xã hội hiện đại" |
- Phân tích bản chất, nguồn gốc, thuộc tính của thông tin trong quản lý xã hội. - Luận giải mối quan hệ giữa xã hội thông tin và phát triển bền vững. - Phân tích năng lực tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy người Việt. - Đánh giá tác động nhiều mặt của công nghệ thông tin đến kinh tế, chính trị, văn hóa tại Việt Nam. |
- Chưa đi sâu làm rõ mối quan hệ đặc thù giữa thông tin chính trị - xã hội với công nghệ thông tin. - Chưa phân tích vai trò của công nghệ thông tin với tư cách là phương tiện chuyển hóa thông tin thành tri thức trong hoạt động ra quyết định của cán bộ cơ sở. |
| 2. Cơ sở lý luận về việc ra quyết định trong quản lý |
- Jonathan Baron (1994): "Suy nghĩ và quyết định" - Kitốp: "Những đặc điểm tâm lý của việc thông qua những quyết định quản lý" - Stephen P. Robbins: "Management" - Uwayaki: "Bí mật của các doanh nghiệp chưa hề thất bại" - Mã Nghĩa Hiệp (chủ biên): "Tâm lý học tiêu dùng" - Michael J. Mauboussin: "Những sai lầm khi ra quyết định" - Nguyễn Đức Minh, Nguyễn Hải Khoát: "Cơ sở tâm lý học của công tác quản lý trường học" - Đỗ Hoàng Toàn: "Quản trị kinh doanh" (1991), "Lý thuyết quản trị kinh doanh" - Phan Kim Chiến: Luận án "Giám đốc doanh nghiệp với việc ra quyết định quản lý kinh doanh" |
- Xem xét ra quyết định là quá trình tư duy, tâm lý và hành vi sáng tạo của chủ thể quản lý. - Xác lập các quy trình ra quyết định theo các bước (từ 5, 8 đến 10 bước). - Phân tích 2 tình huống ra quyết định (khi đã đủ thông tin và khi thiếu thông tin). - Khẳng định thông tin là nguồn nguyên liệu trực tiếp cấu thành quyết định quản lý. |
- Đa số các nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ tâm lý học, quản trị kinh doanh hoặc quản lý doanh nghiệp. - Chưa tiếp cận hệ thống dưới góc độ triết học về vai trò của thông tin chính trị - xã hội đối với quyết định chính trị - hành chính của cán bộ cơ sở. |
| 3. Tác động của thông tin và thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở |
- Lê Xuân Hoa: "Điều tra và xử lý thông tin trong quản lý" - Phạm Thị Thanh Tịnh: Luận án "Nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay" - Trần Xuân Sầm (chủ biên): "Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới" - Nguyễn Phú Trọng (chủ nhiệm đề tài KHXH.03): "Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ..." - Chu Hảo: "Cần thêm gì vào tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo, quản lý trong thời đại kinh tế tri thức" - Huỳnh Thị Gấm: "Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt... cấp huyện ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay" - Phạm Công Khâm: Luận án về CBCC cấp xã ĐBSCL. - Nguyễn Thị Tuyết Mai: Đề tài cấp Bộ về năng lực tổ chức thực tiễn của CBCC cấp xã ĐBSH. - Mai Đức Ngọc: Luận án về vai trò CBCC cấp xã trong giữ vững ổn định CT-XH ở ĐBSH. - Phúc Sơn: "Giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã đạt chuẩn" |
- Phân tích chu trình thu thập, xử lý thông tin quản lý. - Khảo sát môi trường và nhu cầu tiếp nhận thông tin của cư dân nông thôn ĐBSH. - Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, cơ cấu, phẩm chất và năng lực tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ cơ sở và cấp huyện. - Luận giải vai trò nền tảng của chính quyền cấp xã trong hệ thống chính trị Việt Nam. |
- Các nghiên cứu thường tập trung vào cấp huyện trở lên hoặc dừng lại ở các khía cạnh chung về tổ chức, cán bộ. - Chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu chuyên sâu về thực trạng môi trường thông tin chính trị - xã hội tác động đến việc ra quyết định của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở vùng ĐBSH. |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết là: Dưới góc độ triết học xã hội, chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp, toàn diện và có hệ thống về vai trò của thông tin chính trị - xã hội đối với chu trình ra quyết định của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trên địa bàn 10 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và hệ thống khái niệm
Luận án được thực hiện trên cơ sở vận dụng các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, trọng tâm là lý luận nhận thức mácxit (lý luận phản ánh), kết hợp quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển khoa học - công nghệ.
Hệ thống các khái niệm và phạm trù triết học nòng cốt được luận án xác lập bao gồm:
- Bản chất của thông tin: Kế thừa định nghĩa của A. Urơxun ("Thông tin là cái đa dạng được phản ánh"), luận án khẳng định thông tin phản ánh cái đa dạng của hệ thống vật chất này bởi hệ thống vật chất khác thông qua quá trình tương tác. Thông tin ở trình độ cao mang 3 đặc tính cơ bản:
- Mặt cú pháp: Hình thức biểu thị và cấu trúc mã hóa của thông tin.
- Mặt nghĩa: Mức độ phù hợp của tín hiệu phản ánh với đối tượng hoặc sự kiện khách quan.
- Mặt hiệu dụng: Giá trị sử dụng thực tế của thông tin đối với mục tiêu của chủ thể thu nhận tin.
- Mối quan hệ giữa thông tin và tri thức: Thông tin mang ngoại diên rộng hơn, là yếu tố "đầu vào" dạng vật liệu; tri thức là kết quả nhận thức có ý thức của con người, đóng vai trò là "đầu ra" sau quá trình xử lý của tư duy. Trong nền kinh tế tri thức, thông tin sau khi được mã hóa và đưa vào hệ thống giao tiếp trở thành lực lượng sản xuất, chiếm hơn 40% tổng sản phẩm quốc dân tại các quốc gia phát triển.
- Phân loại thông tin: Dựa trên trình độ phản ánh, thông tin gồm 3 dạng: thông tin trong thế giới vô sinh, thông tin trong thế giới hữu sinh và thông tin trong xã hội con người (thông tin xã hội). Theo phân loại của Evlađốp, thông tin xã hội gồm: thông tin kiểm tra - đo lường, thông tin hạch toán - thống kê, thông tin khoa học - kỹ thuật và thông tin chính trị - xã hội.
- Bản chất và 5 đặc trưng của thông tin chính trị - xã hội:
- Mang cơ sở lý luận và phương pháp luận mácxit, là công cụ truyền tải đường lối, chính sách và hệ tư tưởng.
- Luôn gắn liền với lợi ích của chủ thể sử dụng, song vẫn giữ tính khách quan và khoa học khi phản ánh đúng quy luật vận động xã hội.
- Là loại hình thông tin tự giác, phản ánh các mối quan hệ đa dạng giữa các giai cấp, tầng lớp và thể chế chính trị.
- Có tính thời sự cao, đòi hỏi sự kịp thời tuyệt đối (thời gian là yếu tố quyết định giá trị sử dụng).
- Hiệu quả tác động phụ thuộc trực tiếp vào ý thức, năng lực tiếp nhận và kỹ năng xử lý của chủ thể nhận tin.
- Khái niệm cán bộ chủ chốt cấp cơ sở: Là những cá nhân nắm giữ các cương vị lãnh đạo, quản lý trọng yếu trong hệ thống chính trị cấp xã, phường, thị trấn (cấp cơ sở trong cơ cấu 4 cấp hành chính của Việt Nam: trung ương, tỉnh, huyện, cơ sở). Nhóm chức danh này bao gồm 8 vị trí: Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy; Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc; Chủ tịch Hội Phụ nữ; Bí thư Đoàn Thanh niên; Chủ tịch Hội Cựu chiến binh; Chủ tịch Hội Nông dân.
- Phân định các loại quyết định:
- Quyết định của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở: Phát sinh từ các tình huống có vấn đề tại địa phương, thể hiện vai trò quản trị cụ thể nhằm giải quyết các mâu thuẫn thực tiễn.
- Quyết định hành chính: Văn bản quản lý áp dụng một lần cho đối tượng cụ thể (theo Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13).
- Quyết định quản lý hành chính nhà nước: Thể hiện ý chí nhà nước, ban hành theo thẩm quyền pháp luật, có tính quy phạm và bắt buộc áp dụng nhiều lần.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Luận án vận dụng hệ thống phương pháp luận mácxit cùng các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để mổ xẻ các khái niệm triết học, cấu trúc thông tin và phân tích thực trạng các luồng tin.
- Phương pháp thống nhất lịch sử và logic: Theo dõi tiến trình đổi mới cơ chế quản trị cơ sở từ năm 2001 đến nay trong mối liên hệ với quá trình tin học hóa và cải cách hành chính.
- Phương pháp quy nạp và diễn dịch: Khái quát hóa từ các số liệu khảo sát thực tế tại cơ sở lên các nhận định lý luận.
- Phương pháp điều tra khảo sát: Thu thập dữ liệu thực tế về thực trạng tiếp nhận, xử lý thông tin của cán bộ tại 10 tỉnh ĐBSH.
- Phương pháp hệ thống và so sánh: Đặt hoạt động ra quyết định của cán bộ cơ sở trong chỉnh thể hệ thống chính trị và so sánh đặc thù giữa các địa phương.
Nguồn tư liệu, dữ liệu phục vụ nghiên cứu bao gồm: các văn kiện Đại hội Đảng, nghị quyết Trung ương; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Luật Công nghệ thông tin 2006, Luật Khiếu nại 2011, Quyết định 136/2001/QĐ-TTg); các công trình nghiên cứu khoa học chuyên ngành trong và ngoài nước; cùng kết quả điều tra, số liệu thống kê thực tế tại 10 tỉnh, thành phố vùng đồng bằng sông Hồng.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có kết cấu gồm phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục và 4 chương nội dung (chia thành 10 tiết):
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến các chủ đề: thông tin và vai trò của thông tin trong quản lý xã hội; quy trình ra quyết định quản lý; thực trạng môi trường thông tin và đội ngũ cán bộ cơ sở. Chương này chỉ ra rằng, phần lớn các công trình trước đây chỉ tiếp cận thông tin dưới góc độ khoa học kỹ thuật, xã hội học hoặc quản trị kinh doanh, hoặc nghiên cứu cán bộ từ cấp huyện trở lên. Luận án xác định rõ khoảng trống khoa học cần đi sâu giải quyết là nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin chính trị - xã hội với hoạt động ra quyết định của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở vùng đồng bằng sông Hồng trên bình diện triết học xã hội.
Chương 2: Thông tin chính trị - xã hội với việc ra quyết định của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở - Một số vấn đề lý luận
Chương 2 tập trung luận giải các vấn đề lý luận nền tảng:
- Phân tích bản chất của thông tin từ lý thuyết phản ánh, làm rõ sự chuyển hóa biện chứng giữa thông tin và tri thức trong tư duy con người.
- Luận giải vị trí của cấp cơ sở là nền tảng của hệ thống hành chính nhà nước, nơi kiểm nghiệm và hiện thực hóa đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
- Xác định chu trình quản lý của cán bộ cơ sở gồm 4 khâu: (1) Nắm bắt, xử lý thông tin; (2) Ra quyết định; (3) Tổ chức thực hiện và kiểm tra; (4) Tổng kết, rút kinh nghiệm. Trong đó, ra quyết định giữ vị trí trung tâm, quyết định chất lượng của các khâu còn lại.
- Làm rõ các nguồn thông tin tại cơ sở (văn bản, hội họp, báo cáo định kỳ, dư luận quần chúng) và phân tích các yêu cầu trong quy trình xử lý thông tin nhằm bảo đảm tính khoa học, khả thi của quyết định.
Chương 3: Thực trạng phát huy vai trò thông tin chính trị - xã hội trong việc ra quyết định của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay
Chương 3 đi sâu đánh giá thực trạng tại 10 tỉnh, thành phố thuộc ĐBSH:
- Phân tích các nhân tố tác động từ môi trường kinh tế - xã hội và hạ tầng công nghệ thông tin vùng ĐBSH đến việc truyền dẫn, thu nhận thông tin chính trị - xã hội.
- Đánh giá thực trạng năng lực của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong việc thực hiện 5 kỹ năng làm chủ thông tin: nhận dạng nhu cầu, định vị nguồn tin, tổ chức dữ liệu, thẩm định tính xác thực và áp dụng thông tin vào việc ban hành quyết định.
- Chỉ rõ những kết quả tích cực, các hạn chế còn tồn tại (hiện tượng quá tải thông tin sự vụ, thiếu kỹ năng sàng lọc, tiếp nhận thông tin thụ động, ra quyết định thiếu căn cứ thực tiễn) cùng nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy có hiệu quả vai trò thông tin chính trị - xã hội trong việc ra quyết định của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay
Chương 4 xác định các phương hướng phát triển gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ:
- Đổi mới công tác quy hoạch, tuyển chọn, đào tạo và bồi dưỡng kỹ năng xử lý thông tin cho cán bộ cơ sở theo chức danh.
- Hoàn thiện cơ chế cung cấp, minh bạch hóa và xã hội hóa thông tin chính trị - xã hội tại cấp xã, phường, thị trấn.
- Tăng cường đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý phục vụ việc ra quyết định ở cơ sở.
- Cải thiện chế độ, chính sách đãi ngộ nhằm thu hút nhân lực có trình độ chuyên môn cao về công tác tại cấp cơ sở.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Làm rõ bình diện triết học của thông tin và thông tin chính trị - xã hội: Phân tích sâu sắc bản chất thông tin dưới góc độ lý luận phản ánh mácxit, chỉ ra 3 đặc tính (cú pháp, nghĩa, hiệu dụng) và cơ chế chuyển hóa giữa thông tin với tri thức trong quản lý xã hội.
- Khẳng định vai trò quyết định của thông tin chính trị - xã hội trong chu trình quản trị cơ sở: Luận giải một cách có hệ thống rằng chất lượng của các quyết định lãnh đạo, quản lý ở cấp cơ sở phụ thuộc trực tiếp vào tính đầy đủ, chính xác, kịp thời và năng lực xử lý thông tin của chủ thể ra quyết định.
- Phân định rõ ràng các khái niệm: Làm rõ sự khác biệt giữa quyết định của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở với quyết định hành chính và quyết định quản lý hành chính nhà nước.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đánh giá toàn diện thực trạng vùng ĐBSH: Chỉ ra các đặc thù về môi trường thông tin, thực trạng tiếp nhận và những hạn chế cụ thể trong kỹ năng làm chủ thông tin của cán bộ cơ sở tại 10 tỉnh, thành phố ĐBSH giai đoạn từ năm 2001 đến nay.
- Hệ thống hóa các giải pháp nâng cao hiệu quả ra quyết định: Đề xuất các phương hướng và giải pháp mang tính ứng dụng thực tế cao, tập trung vào việc rèn luyện 5 nhóm kỹ năng thông tin cho cán bộ, chuẩn hóa tiêu chuẩn chức danh và đổi mới phương thức quản trị thông tin cấp cơ sở.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về phạm vi không gian: Đề tài giới hạn địa bàn nghiên cứu tại 10 tỉnh, thành phố thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, chưa mở rộng so sánh với các vùng sinh thái - văn hóa đặc thù khác như Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên hay vùng miền núi phía Bắc.
- Hạn chế về cấp quản lý: Đối tượng khảo sát chỉ tập trung vào đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn), chưa nghiên cứu sâu sự liên thông quy trình ra quyết định lên cấp huyện và cấp tỉnh.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng nghiên cứu so sánh liên vùng về hành vi tiếp nhận và xử lý thông tin chính trị - xã hội của cán bộ cơ sở giữa các vùng miền.
- Nghiên cứu tác động của các nền tảng truyền thông số, mạng xã hội và chính quyền điện tử thế hệ mới đến quá trình ra quyết định của cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong bối cảnh chuyển đổi số toàn diện.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng và mục đích cụ thể:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành: Cung cấp tài liệu tham khảo chuyên sâu về chuyên ngành Triết học, Triết học xã hội, Khoa học quản lý, Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước; đặc biệt là hệ thống luận điểm về lý luận phản ánh, bản chất thông tin và chu trình ra quyết định.
- Các cơ quan lãnh đạo, quản lý và tổ chức cán bộ: Hỗ trợ các ban ngành của Đảng, cơ quan nội vụ, chính quyền địa phương trong việc xây dựng khung tiêu chuẩn chức danh cán bộ cơ sở, hoàn thiện quy chế cung cấp thông tin và đổi mới nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng tại các trường chính trị tỉnh, thành phố.
- Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở: Cung cấp tài liệu thực tiễn giúp cán bộ tự trang bị, rèn luyện phương pháp luận khoa học và các kỹ năng thu thập, thẩm định, xử lý thông tin phục vụ việc ban hành các quyết định quản lý tại địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa thông tin và phân biệt thông tin với tri thức như thế nào dưới góc độ triết học?
Luận án kế thừa quan điểm của A. Urơxun, xác định: "Thông tin là cái đa dạng được phản ánh", bắt nguồn từ thuộc tính phản ánh phổ biến của vật chất khi diễn ra tương tác. Về mối quan hệ giữa thông tin và tri thức: Thông tin có ngoại diên rộng hơn, tồn tại ở cả thế giới vô sinh, hữu sinh và xã hội; nó đóng vai trò là "đầu vào" (vật liệu). Tri thức là sản phẩm nhận thức riêng có của con người, đóng vai trò là "đầu ra" sau khi thông tin được xử lý trong tư duy. Tri thức khi được mã hóa và đưa vào hệ thống giao tiếp sẽ trở thành thông tin.
2. Thông tin chính trị - xã hội có những đặc trưng cơ bản nào?
Thông tin chính trị - xã hội mang 5 đặc trưng cơ bản: (1) Dựa trên cơ sở lý luận, phương pháp luận mácxit và hệ tư tưởng chính trị; (2) Gắn liền với lợi ích của chủ thể sử dụng nhưng vẫn bảo đảm tính khách quan, khoa học khi phản ánh đúng quy luật xã hội; (3) Mang tính tự giác cao; (4) Mang tính thời sự cấp thiết, giá trị sử dụng suy giảm nghiêm trọng nếu không được truyền tải kịp thời; (5) Hiệu quả tác động phụ thuộc trực tiếp vào năng lực tiếp nhận, phân tích của chủ thể nhận tin.
3. Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở được xác định gồm những chức danh cụ thể nào?
Đội ngũ này bao gồm những người nắm giữ các vị trí lãnh đạo, quản lý trọng yếu tại xã, phường, thị trấn thuộc 8 chức danh: Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy; Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Chủ tịch Hội Phụ nữ; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Cựu chiến binh; Chủ tịch Hội Nông dân.
4. Sự khác biệt giữa quyết định của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở với quyết định hành chính nhà nước là gì?
Quyết định của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở phát sinh từ các tình huống có vấn đề thực tế tại địa phương, thể hiện hoạt động lãnh đạo, quản lý trực tiếp nhằm giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trên địa bàn. Trong khi đó, quyết định hành chính (theo Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13) là văn bản do cơ quan hoặc người có thẩm quyền ban hành để quyết định về một vấn đề quản lý hành chính cụ thể, áp dụng một lần cho một hoặc một số đối tượng xác định. Quyết định quản lý hành chính nhà nước nói chung mang tính quy phạm, bắt buộc và có thể áp dụng nhiều lần cho nhiều đối tượng.
5. Khâu ra quyết định nằm ở vị trí nào trong chu trình quản trị của cán bộ cơ sở và đòi hỏi các kỹ năng thông tin gì?
Ra quyết định là khâu thứ hai và là khâu giữ vị trí trung tâm trong chu trình quản trị 4 bước của cán bộ cơ sở (Nắm bắt/xử lý thông tin $\rightarrow$ Ra quyết định $\rightarrow$ Tổ chức thực hiện/kiểm tra $\rightarrow$ Tổng kết rút kinh nghiệm). Để ra quyết định đúng đắn, cán bộ cần làm chủ 5 kỹ năng thông tin: nhận dạng nhu cầu thông tin bản thân, định vị nguồn tin phù hợp, tổ chức nguồn tin hợp lý, thẩm định tính xác thực của thông tin và chuyển hóa thông tin thành căn cứ ban hành quyết định.
Kết luận
Luận án tiến sĩ triết học "Thông tin chính trị - xã hội với việc ra quyết định của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay" đã giải quyết một cách khoa học mối quan hệ biện chứng giữa thông tin chính trị - xã hội và năng lực ra quyết định quản trị tại cấp cơ sở. Công trình đã làm rõ cơ sở lý luận nhận thức mácxit về thông tin, phân tích thực trạng năng lực xử lý thông tin của cán bộ tại 10 tỉnh, thành phố đồng bằng sông Hồng giai đoạn từ năm 2001 đến nay. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm chuẩn hóa năng lực thông tin, nâng cao chất lượng các quyết định lãnh đạo, quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới hệ thống chính trị cơ sở trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.