phần mở đầu, phần kết luận, phần danh mục tài liệu tham khảo nội dung luận văn gồm 2 chương 4 tiết. 8 z CHƢƠNG 1 ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CỦA CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ HIỆN NAY – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. Khái niệm đạo đức công vụ, tầm quan trọng của nó đối với cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay 1. Khái niệm đạo đức Ngay từ khi loài người xuất hiện, con người ta đã sống trong cộng đồng.
Để đảm bảo công bằng và bảo vệ lợi ích mà con người đặt ra những điều ước và quy định chung để điều chỉnh hành vi của con người và hình thành nên pháp luật, được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực bên cạnh đó còn có một phương thức điều chỉnh hành vi được thực hiện một cách tự giác và đảm bảo thực hiện chủ yếu thông qua dư luận xã hội đó là đạo đức. Đạo đức được hiểu là một thành tố trong tính cách và giá trị của một con người. Đạo là con đường, đức là nhân đức, đức tính. Với tư cách là một bộ phận của triết học, những tư tưởng, quan niệm về đạo đức xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử xã hội loài người bắt đầu từ những quan niệm về đức hạnh trong triết học của Aristotle thời kỳ Hy – Lạp cổ đại.
Nói đến đạo đức là nói đến lề thói và tập tục, biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người với người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày. Ở Phương Đông, khái niệm đạo đức đầu tiên xuất hiện trong kinh văn nhà Chu sau đó được các nhà triết học Trung Hoa sử dụng nhiều. Đạo có nghĩa là con đường, đường đi. Đạo còn có nghĩa là đường sống của con người.
Đức là nói đến nhân đức, đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa. Như vậy, đạo đức của người Trung Quốc cổ đại là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra đòi hỏi mọi người phải tuân theo. Trong thời Xuân Thu, Chiến quốc, các nhà tư tưởng lớn như Khổng Tử và Mạnh Tử đề cập đến năm mối quan hệ cơ bản trong xã hội “ngũ luân” để xây dựng trật tự trong xã hội Mạnh tử viết: “Quân thần hữu nghĩa (lấy chữ nghĩa làm đầu), phụ tử hữu 9 z thân (tình thân), phu phụ hữu biệt (tôn trọng nhau), trưởng ấu hữu tự (anh em phải có trên dưới), bằng hữu hữu tín (giữ chữ tín)”[sách Mạnh Tử thượng, Đằng Văn Công]. Các ông chủ trương bậc quân vương phải dùng đức để trị nước, hay Lão Tử người sáng lập phái Đạo gia cũng coi trọng đức cho rằng đức là tối thượng.
Chủ trương đức trị Lão Tử nói vua dùng pháp để trị thì dân sợ mà làm theo, dùng đức trị thì dân sẽ biết hổ thẹn mà không làm điều sai trái vua sẽ được lòng dân. Có thể nói, trước Mác và Ăngghen các nhà tư tưởng, triết gia đã tìm đến đạo đức tuy nhiên hầu hết rơi vào quan niệm duy tâm khi đi tìm đạo đức trong bản tính con người hoặc trong một thực thể siêu nhiên thần bí bên ngoài con người, chưa thấy được mối quan hệ giữa đạo đức với xã hội Triết học Mác – Lênin cho rằng đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, có tính độc lập tương đối. Là sản phẩm của quan hệ kinh tế, của hoàn cảnh đấu tranh giai cấp, điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đuyrinh người muốn đưa ra một học thuyết đạo đức vĩnh cửu phù hợp với mọi thời đại trong lịch sử xã hội loài người tuy nhiên quan điểm đó của ông mang tính không tưởng vì đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là sản phẩm của lịch sử xã hội và do cơ sở kinh tế xã hội quy định trong tác phẩm “chống Đuyrinh” Ăng ghen viết: “Xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế xã hội lúc bấy giờ”[50,tr.
Trong lịch sử trải qua hình thái kinh tế xã hội khác nhau tương ứng với nó cũng có năm kiểu đạo đức khác nhau. Thứ nhất, đạo đức trong xã hội nguyên thủy; Thứ hai, đạo đức trong xã hội chiếm hữu nô lệ; Thứ ba, đạo đức trong xã hội phong kiến; Thứ tư,đạo đức trong xã hội tư bản; Thứ năm, đạo đức xã hội chủ nghĩa. Đạo đức mỗi thời kỳ khác nhau mang trong mình những nét riêng phụ thuộc vào kinh tế xã hội, trong xã hội có giai cấp có thể có nhiều hệ thống đạo 10 z đức cùng tồn tại để phản ánh và vảo vệ lợi ích của các giai cấp khác nhau. Đạo đức trải qua mỗi giai đoạn luôn có sự kế thừa chọn lọc để phù hợp với điều kiện lịch sử với xu hướng ngày càng tiến bộ đó cũng là quy luật của phát triển đạo đức.
Từ Platon, Aristotle các nhà tư tưởng đầu tiên đưa ra quan điểm sơ khai về đạo đức cho tới nay mặc dù các quan điểm khác nhau trên lập trường khác nhau nhưng giá trị của đạo đức là vĩnh cửu. G Bandzeladze nhà nghiên cứu đạo đức học người Liên Xô quan niệm “Đạo đức của con người là năng lực phục vụ một cách tự giác và tự do những người khác và xã hội… Nơi nào không có những hành động tự nguyện, tự giác của con người thì nơi ấy không có nhân phẩm, không thể thực sự có đời sống xã hội. Đặc trưng của đời sống con người, của bản thân tính người (hoặc nhân phẩm) là ở đạo đức và nội dung đạo đức chính là năng lực phục vụ tự nguyện, tự giác lợi ích của người khác và của toàn thể xã hội”. Quan niệm đạo đức ngày nay được hiểu là "một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, ra đời, tồn tại và biến đổi theo nhu cầu xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện một cách tự nguyện tự giác, xuất phát từ nhận thức, niềm tin cá nhân, truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội" [43.
Khái niệm công vụ Công vụ là một khái niệm rộng mang tính lịch sử cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về công vụ. Trong nền cộng hoà Pháp công vụ là “toàn bộ những người được nhà nước hoặc cộng đồng lãnh thổ bổ nhiệm vào một công việc thường xuyên trong một công sở hay một công sở tự quản, kể cả các bệnh viện và được thực thụ vào một trong các ngạch của nền hành chính công” [79,tr.4] Trong thuật ngữ hành chính có viết, công vụ là thuật ngữ được sử dụng để chỉ một dạng hoạt động mang tính quyền lực nhà nước (gắn với nhà nước 11 z hoặc nhân danh nhà nước) do các công chức viên chức nhà nước tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, phục vụ lợi ích nhà nước và xã hội [82. Nói đến công vụ, đó chính là hoạt động của nhà nước, là một dạng mang tính quyền lực gắn với nhà nước do cán bộ công chức tiến hành theo quy định nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước đem lại lợi ích cho nhân dân xã hội. Cán bộ công chức khi tham gia vào hoạt động công vụ phải tuân thủ theo quy định nghĩa vụ trách nhiệm để hoàn thành được nhiệm vụ, chức năng ngoài việc phải có trình độ năng lực về chuyên môn mà người cán bộ cũng cần phải có những phẩm chất đạo đức và phải không ngừng học tập tu dưỡng rèn luyện đặc biệt là đạo đức công vụ như Hồ Chí Minh nói đào tạo đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên” Đạo đức công vụ là những phẩm chất mà một cán bộ cần có khi tham gia vào quá trình thực hiện công vụ được thể hiện cụ thể qua mục tiêu, lý tưởng, lối sống, thái độ sống….
Phản ánh mối quan hệ giữa cán bộ với nhà nước, giữa các cán bộ trong thực hiện công vụ và giữa cán bộ với xã hội. Trong thực tiễn Việt Nam đạo đức công vụ được thể hiện qua các phẩm chất chính trị của người cán bộ điều này được thể hiện cụ thể trong hiến pháp sửa đổi 2013 đó là trung thành với Đảng cộng sản Việt Nam, nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự tổ quốc và lợi ích quốc gia; tôn trọng nhân dân, tận tâm phục vụ nhân dân; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước. Trong cuốn sách đạo đức trong nền công vụ nhà xuất bản lao động – 2002, khái niệm đạo đức công vụ ở Việt Nam được hiểu: “Trên nền tảng triết lý nhà nước là của dân, do dân vì dân; nhân dân là chủ, cán bộ công chức là 12 z công bộc của dân. Vì vậy, giá trị cao nhất của đạo đức công vụ là phục vụ nhân dân” [83,tr.198] Trong cuốn nghiên cứu so sánh quy định về đạo đức công vụ của một số quốc gia và Việt Nam nhà xuất bản Chính trị quốc gia năm 2012, có quan niệm rằng: “ Xét về nguyên tắc, đạo đức công vụ có thể hiểu là đạo đức thực thi công vụ của công chức.
Đó là phép về quan hệ giữa công chức với công chức, giữa công chức với tập thể và xã hội trong hoạt động công vụ đó là quy định đối xử trong công vụ mà các công chức phải biết tuân thủ và giữ gìn. Với nghĩa hẹp hơn, đó chính là phẩm chất tốt đẹp của công chức khi thực thi công vụ” [84,tr.16-17] Chúng ta có thể hiểu Đạo đức công vụ là một bộ phận của đạo đức xã hội, là chuẩn mực đạo đức của cán bộ công chức, là hệ thống các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức gắn với hoạt động công vụ nhằm thực hiện công việc điều chỉnh đánh giá thực hiện hành vi, cách xử sự, thực hiện chức chức trách bổn phận của công chức đối với xã hội, đối với Nhà nước và đối với nhân dân được đảm bảo thực hiện bằng niềm tin, trách nhiệm truyền thống đạo đức của dân tộc và bằng sức mạnh của xã hội.