Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Cơ sở lý luận liên quan đến tạo động lực làm việc cho cán bộ công chức viên chức cấp xã 1. Một số khái niệm có liên quan đến tạo động lực làm việc cho cán bộ công chức cấp xã 1. Khái niệm cán bộ công chức cấp xã Cấp xã là tên gọi chung của các đơn vị hành chính thuộc cấp thấp nhất ở khu vực nông thôn, ngoại thành, ngoại thị của Việt Nam.
Thuật ngữ đơn vị hành chính cấp xã còn được dùng để chỉ toàn bộ cấp đơn vị hành chính thấp nhất của Việt Nam, nghĩa là bao gồm cả xã phường, thị trấn. (Quốc hội, 2015) Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở xã được quy đinh cụ thể tại điều 31, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, bao gồm: 1. Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn xã. Quyết định những vấn đề của xã trong phạm vi được phân quyền, phân cấp theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền. Chịu trách nhiệm trước chính quyền địa phương cấp huyện về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở xã. Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn xã. 7 Ở Việt Chính quyền cấp xã gồm có HĐND cấp xã và UBND xã được tổ chức phù hợp với đặc điểm dân cư, xã hội của từng vùng như nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt.
HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. UBND ở cấp xã do HĐND cùng cấp bầu ra là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. UBND tổ chức việc thực hiện nghị quyết của HĐND và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao. (Quốc hội, 2019) Cán bộ, công chức cấp xã được quy định tại Luật Cán bộ, công chức (2008) cụ thể: Cán bộ công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã , trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
(Quốc hội, 2008) Trong điều kiện hiện nay, làm việc ở cấp xã còn có một lực lượng lao động đặc biệt. Đó là những “công chức dự bị” của các cấp cao hơn được đưa về làm việc tại cấp xã. Ngoài ra, còn có một lực lượng công chức về tăng cường cho cấp xã. Trong phạm vi của luận văn này, tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu vào động lực làm việc của nhóm công chức cấp xã được quy định trong Luật Cán bộ, công chức 2008 và Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã , phường, thị trấn và hiện nay được thay thế bằng Nghị định 33/2023/NĐ-CP ngày 10/6/2023.
Tại Nghị định 33/2023/NĐ-CP ngày 10/6/2023 của Chính phủ, quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, bao gồm: - Cán bộ xã bao gồm: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ 8 Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã , phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. - Công chức cấp xã bao gồm: Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội. Khái niệm về tạo động lực làm việc cho cán bộ công chức cấp xã * Khái niệm về động lực làm việc Có rất nhiều định nghĩa về động lực, một trong số đó là: Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình. (Mitchell, 1982) Động lực làm việc là sự thúc đẩy từ bên trong, dựa trên nền tảng các nhu cầu cơ bản một cách có ý thức và vô thức của một cá nhân mà chính điều đó dẫn dắt CBCC để đạt mục tiêu.
(Gail Carr, 2005) Động lực hay động cơ là “sức mạnh tác động lên một người hoặc sức mạnh nảy sinh trong lòng anh ta, thúc đẩy người đó hành động hướng đến một mục tiêu nhất định. Một CBCC có động cơ làm việc cao là người năng động, chịu đầu tư sức lực và tinh thần để hoàn thành công việc của mình và đạt được chỉ tiêu đề ra” (Huỳnh Thanh Tú, 2013, trang 107). Ta cần phân biệt hai khái niệm động lực và sự thỏa mãn. Động lực là sự thôi thúc, khuyến khích cố gắng để đạt được điều mong muốn.
Còn sự thỏa mãn là sự hài lòng, toại nguyện khi điều mong muốn được đáp ứng. Có thể nói, “động lực làm việc của CBCC là sự sẵn lòng thể hiện mức độ cao của nỗ lực để hướng tới các mục tiêu của tổ chức, trong điều kiện một số nhu cầu cá nhân được thỏa mãn theo khả năng của họ”. (Herzberg, 1959) 9 Nâng cao động lực là tìm kiếm, tạo ra kích thích nhằm thôi thúc, khuyến khích, động viên con người thực hiện hành vi để đạt được mục tiêu. Nâng cao động lực làm việc cho CBCC là sử dụng hệ thống chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động đến CBCC thúc đẩy họ nâng cao tinh thần làm việc.
Bản chất của động lực làm việc xuất phát từ nhu cầu và sự thõa mãn nhu cầu của CBCC. Chính động lực làm rút khoảng cách giữa nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu. * Khái niệm về tạo động lực làm việc Vấn đề tạo động lực lao động cho nhân lực nói chung và cho CBCC trong tổ chức nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Theo Lê Thanh Hà (2012): “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, nhà quản lý để tạo ra sự khát khao, tự nguyện của CBCC buộc họ phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu nhằm đạt được các mục tiêu mà tổ chức đề ra.
Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về tài chính, phi tài chính, cách hành xử của tổ chức được thể hiện ở điểm tổ chức đó đối xử lại với CBCC như thế nào”. Theo Bùi Anh Tuấn (2009): “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến CBCC nhằm làm cho CBCC có động lực trong làm việc”. * Khái niệm về tạo động lực làm việc cho CBCC cấp xã Dựa vào các khái niệm trên tác giả đưa ra khái niệm về tạo động lực làm việc cho công chức cấp xã như sau: “Tạo động lực làm việc cho CBCC cấp xã là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách thức của các cơ quan quản lý nhà nước đối với công chức cấp xã để động viên, khuyến khích khả năng làm việc của công chức cấp xã trong quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao vì lợi ích chung của xã hội, địa phương”. Động lực làm việc của CBCC cấp xã thể hiện thông qua công việc cụ thể mà mỗi người CBCC đang đảm nhiệm và thể hiện cả trong thái độ của họ 10 đối với tổ chức.
Điều này chứng minh rằng không có động lực làm việc chung cho mọi người. Mỗi người đảm nhiệm những công việc khác nhau sẽ có những động lực khác nhau để hoàn thành công việc. Động lực làm việc được gắn liền với một tổ chức, một công việc và một môi trường làm việc cụ thể. Động lực làm việc của CBCC cấp xã không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách của cá nhân mà nó còn có thể thường xuyên thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan diễn ra trong công việc.
Ở thời điểm này một CBCC có thể có động lực làm việc rất cao nhưng ở một thời điểm khác động lực làm việc chưa chắc đã còn trong họ. Động lực của CBCC cấp xã mang tính tự nguyện, phụ thuộc vào chính bản thân CBCC, CBCC sẽ chủ động làm việc hăng say khi họ không cảm thấy có một sức ép hay áp lực nào trong công việc. Khi CBCC được làm việc một cách chủ động, tự nguyện thì họ sẽ đạt được năng suất lao động cao nhất. Đặc điểm của tạo động lực làm việc cho cán bộ công chức cấp xã 1.
Một số học thuyết tạo động lực làm việc lao động (1). Học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow Abraham (Harold) Maslow (1908 - 1970) là một nhà tâm lý học người Mỹ. Ông được thế giới biết đến qua mô hình nổi tiếng Tháp nhu cầu. Khi nghiên cứu về động lực lao động, Maslow cho rằng con người có nhiều nhu cầu khác nhau cần được thoả mãn.
Ông chia hệ thống nhu cầu thành 5 nhóm khác nhau theo thứ tự từ nhu cầu bậc thấp đến nhu cầu bậc cao như sau: 11 Hình 1. Tháp nhu cầu của Maslow (Nguồn: Maslow, 1970) Những nhu cầu cơ bản hay nhu cầu sinh lý là những nhu cầu đảm bảo cho con người tồn tại như: ăn, uống, mặc, tồn tại và phát triển nòi giống và các nhu cầu của cơ thể khác. Những nhu cầu về an toàn và an ninh là các nhu cầu như an toàn, không bị đe doạ, an ninh, chuẩn mực, luật lệ. Những nhu cầu xã hội là các nhu cầu về tình yêu, được chấp nhận, bạn bè, xã hội.
Những nhu cầu tự trọng là các nhu cầu về tự trọng, tôn trọng người khác, được người khác tôn trọng, địa vị. Những nhu cầu tự hoàn thiện là các nhu cầu như chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, hài hước.