CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về đê sông Hồng. Lịch sử đê sông Hồng. Sông Hồng bắt nguồn từ dãy núi Nhụy Sơn (cao 1776m) ở gần hồ Đại Lý thuộc huyện Nhị Đô, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam chảy vào Việt Nam ở cửa khẩu Hà Khẩu (Lào Cai) qua 7 tỉnh đổ ra biển bằng 10 cửa, cửa chính là cửa Ba Lạt (Nam Định).
Hình 1-1 : Bản đồ lưu vực sông Hồng - Thái Bình Trước khi người Pháp đặt tên cho Sông Hồng, nó đã có rất nhiều tên gọi. Mỗi địa phương có một tên sông riêng của mình, ví dụ như: Sông Thao, 5 sông Cái, sông Nhĩ Hà, sông Nam Sang, Hoàng Giang… vì thế nó cũng được coi là con sông có nhiều tên nhất. Sông Hồng là con sông rất riêng của Việt Nam. Con sông ấy chẳng những bồi đắp nên nền văn minh sông Hồng, một trong 36 nền văn minh của thế giới mà còn là hệ thống sông lớn nhất miền Bắc nước ta, lớn thứ 2 trên bán đảo Đông Dương sau sông Mêkông (sông Cửu Long).
Với chiều dài 1126 km, qua địa phận Việt Nam là 556 km chiếm 49,3%, diện tích toàn lưu vực là 155.000km2 chiếm 45,6% diện tích. Ngoài ra, sông Hồng còn có tận 614 phụ lưu từ cấp 1 đến cấp 6, có những phụ lưu lớn như Đà, Lô, Chảy… 1. Hiện trạng, đặc điểm đê sông Hồng. Hiện tại đê sông Hồng tính cả 2 bên bờ có chiều dài khoảng 420 km, phân bố theo các tỉnh như sau: Bảng 1-1 : Bảng thống kê chiều dài đê sông Hồng theo các tỉnh Bờ hữu Bờ tả TT Tỉnh Đến Dài Đến Dài Tổng Từ Km Từ Km Km (km) Km (km) 1 Vĩnh Phúc 0 48+165 48,165 48,165 2 Hà Nội 0 117+900 114,089 48+165 77+284 29,119 143,208 3 Hà Nam 117+900 156+873 38,973 38,973 4 Hưng Yên 77+284 133+050 59,006 59,006 5 Nam Định 156+873 219+702 64,081 64,081 6 Thái Bình 133+050 200+000 67,38 67,38 Tổng 420,813 (Nguồn: Tổng cục Thủy lợi) 1.
Đặc điểm địa hình – địa mạo. Vùng tuyến đê sông Hồng thuộc kiểu địa hình tích tụ đồng bằng, được thành tạo bởi các trầm tích sông, có bề mặt khá bằng phẳng, cao độ 4m -12m, trung bình 6m - 7m, thấp dần theo chiều dòng chảy của sông, cao nhất ở phía Tây Bắc đến thấp nhất ở phía Đông Nam. Dựa vào hình thái và điều kiện thành tạo có thể chia ra các dạng địa hình sau: 6 a. Dạng địa hình này phân bố chủ yếu ở phía Đông Bắc vùng nghiên cứu thuộc tả ngạn sông Hồng và tập trung một phần nhỏ ở Xuân Đỉnh, Cổ Nhuế,.
bên hữu ngạn, có bề mặt tương đối bằng phẳng, cao độ 8m - 12m, trung bình 9,5m. Thành tạo nên địa hình là các trầm tích hệ tầng Vĩnh Phúc, chủ yếu là sét pha, sét. Đồng bằng tích tụ. Đây là dạng địa hình phân bố rộng rãi ở phía trong đê, bề mặt tương đối bằng phẳng, ít thay đổi, có xu hướng nghiêng về phía Đông Nam, cao độ trung bình 7m - 8m ở phía Tây Bắc và 4m - 5m ở phía Đông Nam.
Tuy nhiên, dọc theo tuyến đê địa hình bị chia cắt nhiều, có những dải đất trũng, đầm, ao, hồ. nối tiếp nhau. Đặc biệt theo hướng lòng sông cổ còn tồn tại một số hồ móng ngựa có chiều sâu tới vài mét như hồ Tây, hồ Trúc Bạch, hồ Bảy Mẫu. thành tạo nên dạng địa hình này là các trầm tích sét pha, sét, cát pha nguồn gốc aluvi thuộc hệ tầng Thái Bình dưới.
Bãi bồi hiện đại: Bãi bồi hiện đại là dạng địa hình tích tụ trẻ nhất, phân bố ở phía bên ngoài đê, nơi vẫn còn đang chịu sự chi phối bởi hoạt động xâm thực, vận chuyển và tích tụ của sông. Bãi bồi gồm bãi bồi thấp và bãi bồi cao. Bãi bồi thấp bao gồm các bãi bồi ở giữa lòng và ven lòng sông, bãi bồi cao nằm trong khoảng giữa lòng sông và đê. Thành tạo nên bãi bồi hiện đại chủ yếu là sét pha, cát pha, cát hạt nhỏ và một phần là sét màu nâu hồng, nâu nhạt thuộc phụ hệ tầng Thái Bình trên.
Đặc điểm địa chất. Trầm tích Đệ Tứ khu vực đê. Theo kết quả nghiên cứu của Đoàn địa chất Hà Nội năm 1999, trầm tích Đệ tứ khu vực đê bao gồm các phân vị địa tầng từ dưới lên như sau: 7 + Thống Pleistoxen dưới, hệ tầng Lệ Chi (aQ 1 lc); + Thống Pleistoxen giữa - trên, hệ tầng Hà Nội (a, apQ II – III 1hn); + Thống Pleistoxen trên, hệ tầng Vĩnh Phúc (a,lQ m 2vp); + Thống Holoxen, bậc dưới- giữa hệ tầng Hải Hưng (Q IV 1-2hh): - Phụ hệ tầng dưới (1bQ IV 1-2hh 1 ); - Phụ hệ tầng dưới (mQ IV 1-2hh 1 ); + Thống Holoxen, bậc trên hệ tầng Thái Bình (Q IV 3tb): - Phụ hệ tầng dưới (a,ap,albQ IV 3tb 1 ); - Phụ hệ tầng trên (aQ IV 3tb 2 ); Ở vùng tuyến đê sông Hồng khu vực Hà Nội, hầu như có mặt tất cả các phân vị địa tầng trên. Tuy nhiên, do chịu tác động mạnh của dòng chảy nên chiều dày, phạm vi phân bố, thành phần.
của trầm tích Đệ tứ ở đây có đặc điểm biến đổi phức tạp hơn so với vùng xung quanh. Địa tầng và các tính chất cơ lý. Theo quan điểm địa chất công trình, dựa vào các tài liệu điều tả địa chất công trình được tiến hành từ năm 1985 đến 1996 của Công ty tư vấn xây dựng Thủy lợi 1 (HEC1), Viện nghiên cứu khoa học Thủy lợi, Trường đại học Mỏ - Địa chất, có thể phân chia trầm tích Đệ tứ nền đê sông Hồng, thành các phức hệ địa tầng nguồn gốc và các nguyên địa chất công trình (lớp đất) từ trên xuống như sau: 1) Tầng đất thân đê (kí hiệu: 1a). Đất đắp cơ đê và á sét lấp hồ ao đê (1b), á cát và cát lấp hồ ao, hoặc vun đống để khai thác vật liệu xây dựng (1c).
2) Tầng bồi tích hiện đại: gồm có á sét, á cát (2a), cát (2e) phân bố ở thượng lưu đê cũ và bãi bồi (bãi ven sông và giữa sông) chiều dày từ 5m ÷ 10m, nơi đáy đê là lớp cát (2e) với chiều dày 2m÷ 4m. 3) Tầng bồi tích trẻ: - Á sét nặng, dẻo mềm (2), đất sét mịn (2b), phân bố không liên tục, chiều dày từ 0 ÷ 5m. 8 - Á sét nhẹ, á cát chứa các chất hữu cơ có kí hiệu (3b), á cát kí hiệu (3a) phân bố cục rải rác ở nền đê các đoạn: Hồ Tây - Trúc Bạch, Bùng, Đông Mỹ với chiều dày từ 0,2m đến 5m hoặc 6m. - Á sét nặng - sét hữu cơ (3) phân bổ chủ yếu ở vùng Liên Trung, Đông Mỹ với chiều dày từ 3m ÷ 7m.
- Cát mịn trung, cát giàu bụi sét (4) phân bố tập trung tại các vùng Bùng, Đông Mỹ, nội thành, Hồ Tây, Lên Hồng. 4) Đất sét hữu cơ (5) gặp nhiều ở Đông Mỹ, Tiên Tân. Cát trung - thô chứa ít sạn sỏi nhỏ, chỉ gặp lẻ tẻ. 5) Tầng đất sét - á sét nặng (6) phân bố ở nền các đoạn Bá Nội, Thượng Cát, Hoàng Liên, Thụy Phương, Phú Gia, Vạn Phúc.
Á sét nhẹ - cát pha, kí hiệu (7) chỉ gặp ở vài nơi: Cống Liên Mạc, Thượng Cát, Phú Gia. 6) Tầng bồi tích cát, cuội sỏi, kí hiệu (8) nổi cao ở vùng Thượng Cát, Phú Gia từ (-1) ÷ (-5) trở xuống, tại vùng Bùng - Đông Mỹ, Yên Phụ, gặp lớp (8) ở độ cao (-25) trở xuống. Như vậy nền đất đê có thể chia thành 3 nhóm chính: a) Nhóm 1: Gồm các lớp có tính thấm vừa - lớn, khả năng chống áp lực thấm kém, dễ bị xói ngầm đó là: - Lớp (8) cát, cuội sỏi có K = 10-2 ÷ 10-1 cm/s. - Lớp (4) cát mịn, cát giàu bụi sét, có K = 10-2 ÷ 10-3 cm/s.
- Lớp (2c) cát phù sa hiện đại, có K = 10-2 ÷ 10-3 cm/s. b) Nhóm 2: Đất yếu, sức chịu tải kém, dễ bị lún không đều, tính thấm không lớn, đó là: - Lớp (3) á sét nặng - chứa chất hữu cơ φ = 4 ÷ 5o, c = 0,04 ÷ 0,05 kg/cm2. - Lớp (5) đất sét chứa hữu cơ φ = 4o, c = 0,05 kg/cm2. 9 c) Nhóm 3: đất có cường độ khá tốt, gồm các loại đất dẻo cứng đến mềm, có hệ số thấm K nhỏ, khả năng chịu tải tốt, đó là các lớp: - Lớp (2), (2b) á sét đến sét có K < 10-5 cm/s, φ = 8 ÷ 12o, c = 0,15 ÷ 0,20 kg/cm2.
- Lớp (6) á sét đến sét lateric hóa có φ = 15o, c = 0,15 kg/cm2. Ngoài ra còn có các lớp đất trung gian, có tính thấm và cường độ trung bình đó là: - Lớp (3a) á cát - á sét nhẹ chứa các thấu kính cát. - Lớp (7) á sét nhẹ - cát pha - loại này dễ bị xói ngầm. Đặc điểm thủy văn.
Vùng đê sông Hồng do các thành tạo trầm tích đệ tứ, có tính thấm và thấm nước không đồng đều. Trong các trầm tích đệ tứ có hai tầng thấm nước chủ yếu là tầng thấm nước không áp hoặc áp lực yếu phân bố không liên tục và tầng thấm nước có áp phân bố liên tục trên toàn vùng. Nói chung nền đê sông Hồng có cấu trúc địa chất và đặc điểm địa chất công trình không đồng nhất. Các lớp đất rời thường không lộ ra mà bị phủ bởi lớp trầm tích thấm nước yếu.
Chúng chỉ lộ ra cục bộ khi lớp phủ bị bóc bỏ hoặc phá vỡ, lớp phủ thấm nước yếu ở phía trong đê có lộ lên và chiều dày khác nhau. Trên toàn tuyến đê, có nơi tồn tại các lớp trầm tích hạt rời của cả 2 hệ tầng Thái Bình và Vĩnh Phúc. Ở những nơi này, chiều dày lớp phủ thấm nước yếu thường không lớn. Có nơi trầm tích hạt rời của 2 hệ tầng Thái Bình và Vĩnh Phúc phủ trực tiếp lên nhau, khi đó 2 tầng thấm nước không áp và có áp liên thông trực tiếp với nhau.
Mặt khác, ở mỗi đoạn đê bãi bồi cao có chiều rộng khác nhau, do đó sức cản thấm và áp lực dòng thấm của nước dưới đất tại các vị trí khác nhau của tuyến đê không giống nhau. Với những đặc điểm nêu trên, khi nghiên cứu chế độ thấm qua thân và nền đê, cần phải phân biệt trong phạm vi nghiên cứu các kiểu cấu trúc nền khác nhau. Các vấn đề sạt lở bờ sông. Sạt lở bờ sông luôn là mối đe dọa cho công trình và các hoạt động kinh tế ven bờ, đặc biệt là khu vực đồng bằng Bắc Bộ, sạt lở bờ sông còn đe dọa đến cả ổn định của hệ thống đê – công trình an toàn quốc gia.