CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. Các nghiên cứu trước đây trên thế giới Các nghiên cứu liên quan đến tính kịp thời của BCTC đã xuất hiện từ những năm 80 của thế kỷ XX và sau đó phát triển đa dạng với rất nhiều bài nghiên cứu được công bố trên các tạp chí chuyên ngành. Các nghiên cứu phần lớn chú trọng đến mối liên hệ giữa tính kịp thời của BCTC và thông tin về lợi nhuận của công ty, và nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC, và đều nghiên cứu dựa trên nguyên tắc tin tốt được công bố trước, tin xấu được công bố sau (good news early, bad news later). Những nghiên cứu liên quan đến mối liên hệ giữa tính kịp thời của BCTC và thông tin về lợi nhuận của công ty sớm nhất là của Givoly và Palmon (1982), Chamber và Penman (1984), Kross và Schroeder (1984).
Trong ba nghiên cứu trên, các tác giả đã thử nghiệm kiểm tra phản ứng của thị trường chứng khoán đối với tính kịp thời của BCTC. Tổng quan, các nghiên cứu này cho thấy rằng các BCTC được công bố sớm hơn thời gian dự kiến của chúng được kết hợp với việc lợi nhuận tăng vượt mức bình thường, trong khi các BCTC được công bố trễ hơn thời gian dự kiến liên quan đến lợi nhuận giảm bất thường, hay có thể hiểu là thông tin tốt (good news) được công bố sớm hơn thông tin xấu (bad news). Những kết quả này chỉ ra rằng tính kịp thời của BCTC có thể được sử dụng như là một tín hiệu để phân biệt các công ty với những tin tức tốt lành và các công ty có tin tức xấu, và các nhà đầu tư nhận ra tín hiệu này trong quá trình ra quyết định đầu tư của họ. Trong phạm vi của luận văn, tác giả tóm tắt một số công trình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC có liên quan đến đề tài nghiên cứu như sau: [1] Tên đề tài: Audit Qualification and the Timeliness of Corporate Annual Reports (Báo cáo kiểm toán với ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần và tính kịp thời của BCTC thường niên của doanh nghiệp) Tác giả: G.
Whittred Nguồn: The Accounting Review, Vol. 563-577 7 Năm phát hành: 1980 Nội dung: + Nghiên cứu điều tra tác động của các báo cáo kiểm toán có ý kiến không phải ý kiến chấp nhận toàn phần tới tính kịp thời của BCTC năm tại Úc. + Mẫu nghiên cứu bao gồm 245 BCTC đã kiểm toán của 120 công ty niêm yết tại SGDCK Sydney (Úc), trong khoảng thời gian từ năm 1965 đến năm 1974. + Tính kịp thời của BCTC trong nghiên cứu được đo lường bằng ba cách: (1) Số ngày từ lúc kết thúc năm tài chính đến ngày BCTC sơ bộ của doanh nghiệp được công bố chính thức tại SGDCK Sydney (Preliminary Lag).
+ Thử nghiệm trong nghiên cứu này so sánh hành vi báo cáo của các công ty có báo cáo kiểm toán có ý kiến không phải ý kiến chấp nhận toàn phần với một mẫu ngẫu nhiên của các công ty có báo cáo kiểm toán có ý kiến chấp nhận toàn phần, và với hành vi báo cáo của chính các công ty đó trong những năm trước khi có báo cáo kiểm toán có ý kiến không phải ý kiến chấp nhận toàn phần. + Kết quả kiểm định (bao gồm kiểm định Kruskal-Wallis và kiểm định Mann- Whitney) cho thấy bằng chứng về các công ty có ý kiến không phải ý kiến chấp nhận toàn phần chậm trễ trong việc công bố BCTC sơ bộ (theo yêu cầu của Cơ quan quản lý Giao dịch Chứng khoán Úc) và BCTC năm (theo yêu cầu của Luật doanh nghiệp 1961). Kết quả cũng cho thấy rằng mức độ nghiêm trọng của ý kiến kiểm toán không phải ý kiến chấp nhận toàn phần càng cao thì càng có sự chậm trễ trong việc công bố BCTC. Cụ thể, công ty có báo cáo kiểm toán với ý kiến chấp nhận toàn phần công bố BCTC trung bình sau 107 ngày, trong khi công ty với ý kiến không phải ý kiến chấp nhận toàn phần công bố chậm trễ hơn trung bình 62 ngày, trong đó có ý kiến ngoại trừ công bố BCTC sau 17 ngày so với công ty có ý kiến chấp nhận toàn phần.
Thêm vào đó, 50% số công ty có ý kiến chấp nhận toàn phần công bố BCTC sớm hơn trung 8 bình 12 ngày so với năm trước đó nếu năm trước có ý kiến ngoại trừ, và 28 ngày nếu năm trước có ý kiến trái ngược hoặc từ chối phát hành ý kiến. Những kết quả này được xem xét và được lập luận giải thích rằng lý do hợp lý cho sự chậm trễ này do sự gia tăng của thời gian cần thiết để hoàn thành cuộc kiểm toán cuối năm và thời gian dành cho việc thảo luận ý kiến kiểm toán giữa kiểm toán viên và khách hàng. Graul và James D. Newton Nguồn: Contemporary Accounting Research, Vol.
657-673 Năm phát hành: 1989 Nội dung: + Nhóm tác giả lập luận rằng thời gian hoàn tất báo cáo kiểm toán (audit delay) ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC, do đó nhóm tác giả tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian hoàn tất báo cáo kiểm toán (audit delay) để xác định tính kịp thời của BCTC. + Nghiên cứu được thực hiện dựa trên mẫu bao gồm 465 công ty niêm yết trên Sàn chứng khoán Toronto (Canada) trong giai đoạn 1977 – 1982. + Tính kịp thời của BCTC trong nghiên cứu được đo lường bằng số ngày từ lúc kết thúc năm tài chính đến ngày ký báo cáo kiểm toán. + Nhóm tác giả đề xuất các nhân tố có thể ảnh hưởng đến rằng thời gian hoàn tất báo cáo kiểm toán bao gồm (1) quy mô công ty, (2) lĩnh vực hoạt động, (3) tháng kết thúc năm tài chính, (4) công ty kiểm toán, (5) dấu hiệu của thu nhập, (6) các khoản mục đặc biệt, (7) các khoản nợ tiềm tàng và (8) loại ý kiến kiểm toán và xây dựng mô hình dựa trên các nhân tố này.
+ Kết quả phân tích hồi quy mô hình cho thấy các biến có mối quan hệ nhất quán với thời gian hoàn tất báo cáo kiểm toán qua 6 năm phạm vi nghiên cứu bao gồm (1) quy mô công ty, (2) lĩnh vực hoạt động, (5) dấu hiệu của thu nhập và (6) các khoản mục đặc biệt. Các biến còn lại có ý nghĩa thống kê nhưng tỷ lệ biến đổi của thời gian 9 hoàn tất báo cáo kiểm toán được giải thích bởi các biến là rất thấp. Cụ thể, (1) quy mô công ty (đo lường bằng tổng tài sản) có ảnh hưởng ngược chiều với thời gian hoàn thành báo cáo kiểm toán. Về (2) lĩnh vực hoạt động, công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính có thời gian thời gian hoàn thành báo cáo kiểm toán nhanh hơn các công ty trong các lĩnh vực khác.
Về (5) dấu hiệu của thu nhập, công ty có thu nhập thuần âm sẽ có thời gian thời gian hoàn thành báo cáo kiểm toán dài hơn các công ty có thu nhập thuần lớn hơn hoặc bằng không. Và sự xuất hiện (6) các khoản mục đặc biệt trên BCTC, dù cho chúng có tác động làm tăng hay giảm thu nhập thuần, thì đều kéo dài thời gian hoàn thành báo cáo kiểm toán. [3] Tên đề tài: Timeliness of corporate and audit reports: Some empirical evidence in the French context (Tính kịp thời của BCTC của doanh nghiệp và báo cáo kiểm toán: Một số bằng chứng thực nghiệm tại Pháp) Tác giả: Bahram Soltani Nguồn: The International Journal of Accounting, Vol 37, pp. 215–246 Năm phát hành: 2002 Nội dung: + Nghiên cứu được thực hiện để xem xét hai vấn đề chính liên quan đến tính kịp thời của BCTC tại Pháp gồm (1) sự cải thiện trong tính kịp thời của BCTC của các công ty tại Pháp (bao gồm BCTC riêng và BCTC hợp nhất), và (2) tác động của các loại báo cáo kiểm toán khác nhau tới tính kịp thời của BCTC.
+ Nghiên cứu được thực hiện dựa trên mẫu bao gồm 5,801 BCTC của các công ty niêm yết tại Sàn chứng khoán Paris (Pháp) trong vòng 10 năm, giai đoạn 1986 – 1995. + Tính kịp thời của BCTC trong nghiên cứu được đo lường bằng số ngày từ lúc kết thúc năm tài chính đến ngày ký báo cáo kiểm toán. + Kết quả kiểm định Chi bình phương có thấy thời gian từ lúc kết thúc năm tài chính đến ngày ký báo cáo kiểm toán của các công ty niêm yết giảm dần từ năm 1986 (114.1 ngày), có nghĩa là có sự cải thiện tính kịp thời của 10 BCTC của các công ty niêm yết tại Pháp sau 10 năm. Trong đó, các công ty với BCTC riêng giảm đi 10.5 ngày vào năm 1985, và 111.3 ngày vào năm 1995), công ty với BCTC giảm tới 16 ngày (120.8 ngày vào năm 1985, và 104.
Với loại báo cáo kiểm toán, BCTC với ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần giảm 34.2 ngày vào năm 1985, và 66.9 ngày vào năm 1995), còn BCTC với ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần chỉ giảm 22.5 ngày vào năm 1985, và 109.2 ngày vào năm 1995), công ty có báo cáo kiểm toán với ý kiến chấp nhận toàn phần công bố BCTC kịp thời hơn so với công ty có báo cáo kiểm toán không phải ý kiến chấp nhận toàn phần. Về tác động của dạng ý kiến không phải chấp nhận toàn phần, tác giả đưa ra nhiều dạng ý kiến khác nhau, bao gồm ý kiến ngoại trừ (được tác giả phân loại gồm ý kiến ngoại trừ do hạn chế thông tin khoản mục, ngoại trừ do nhiều khoản mục không đảm bảo, ngoại trừ do không tuân thủ chuẩn mực và quy định, ngoại trừ do thiếu trích lập dự phòng hưu trí cho nhân viên, ngoại trừ do các khoản dự phòng khác, và các ý kiến ngoại trừ khác), ý kiến trái ngược và từ chối phát hành ý kiến kiểm toán. Thời gian ký báo cáo kiểm toán của công ty thay đổi theo mức độ nghiêm trọng của ý kiến kiểm toán, với thời gian trung bình của báo cáo từ chối phát hành ý kiến kiểm toán là 179.8 ngày, báo cáo với ý kiến trái ngược là 129.5 ngày, và báo cáo với ý kiến ngoại trừ dao động từ 115. Từ đó, Soltani cũng kết luận rằng mức độ chấp thuận càng giảm thì thời gian công bố báo cáo kiểm toán càng chậm hơn (the more serious the qualification, the greater the delay).
[4] Tên đề tài: Timeliness of Corporate Annual Financial Reporting in Greece (Tính kịp thời của BCTC của doanh nghiệp tại Hy Lạp) Tác giả: Stephen Owusu-Ansah và Stergios Leventis Nguồn: European Accounting Review, Vol.