Chương 1: Cơ sở lý luận về mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán BCTC Chương 2: Mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán của Công ty TNHH Kiểm toán DFK Việt Nam Chương 3: Nhận xét và đề xuất 2 CHUƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỨC TRỌNG YẾU VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.1 Mức trọng yếu trong kiểm toán BCTC 1.1 Khái niệm mức trọng yếu Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) số 320 Thông tư số 214/2012/TT-BTC ban hành ngày 06/12/2012 – “Mức trọng yếu trong lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán” thì ta có khái niệm sau: “Trọng yếu: Là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin (một số liệu kế toán) trong BCTC. Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của người sử dụng BCTC”. Trong quá trình kiểm toán, do việc lấy mẫu cũng như các hạn chế tiềm tàng nên KTV không thể phát hiện tất cả sai lệch trong BCTC nhưng phải đảm bảo những sai lệch còn tồn tại trên BCTC không ảnh huởng trọng yếu đến BCTC và quyết định của người sử dụng nên KTV phải xác định mức trọng yếu có thể chấp nhận được, nghĩa là số tiền chênh lệch tối đa cho phép. Từ đó, KTV thiết lập các thủ tục kiểm toán thích hợp nhằm phát hiện những sai lệch trọng yếu trên BCTC.
Thí dụ, khi xác lập mức trong yếu thấp, nghĩa là số tiền sai lệch được phép khá nhỏ, KTV cần phải mở rộng phạm vi kiểm tra như tăng cỡ mẫu của các thử nghiệm cơ bản. Còn khi xác lập mức trọng yếu cao, nghĩa là số tiền sai lệch được phép khá lớn nên KTV có thể thu hẹp phạm vi kiểm tra cỡ mẫu, giảm bớt khối lượng công vệc kiểm toán. Trong giai đoạn thực hiện và hoàn thành kiểm toán, KTV cần đánh giá xem các sai lệch chưa được điều chỉnh có gây ảnh hưởng trọng yếu hay không để từ đó có các hành động thích hợp. Khi đó bên cạnh việc dựa trên mức trọng yếu đã nêu, KTV còn phải xem xét bản chất của những sai lệch này.
Như vậy, mức trọng yếu tác động xuyên suốt quá trình kiểm toán, giúp cho KTV xác định thủ tục kiểm toán cũng như đưa ra quyết định có nên đưa những sai sót phát hiện được trong quá trình kiểm toán lên BCTC hay không. Mức trọng yếu được xác lập chủ yếu trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, được cập nhật và điều chỉnh trong suốt quá trình kiểm tóan (nếu có). Khi xác lập mức trọng yếu, KTV sẽ thiết lập mức trọng yếu dựa trên hai cấp độ là mức trọng yếu tổng thể BCTC và mức trọng yếu khoản mục: • Mức trọng yếu tổng thể BCTC: Là ước tính của KTV về tổng các sai sót chấp nhận được để đảm bảo rằng BCTC không có sai lệch trọng yếu. Mức trọng yếu tổng thể này thường được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên tài sản, doanh thu hoặc lợi nhuận trước thuế.
3 • Mức trọng yếu khoản mục: Là sai lệch tối đa cho phép của khoản mục. Có nhiều phương pháp xác định mức trong yếu khoản mục nhưng hầu hết đều dựa trên cơ sở mức trọng yếu tổng thể của BCTC như: Phân bổ mức trọng yếu tổng thể cho từng khoản mục theo một tỷ lệ nào đó hoặc thiết lập mức trọng yếu kế hoạch bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định so với mức trọng yếu tổng thể. Ngoài ra: • “Mức trọng yếu thực hiện: Là một mức giá trị hoặc các mức giá trị do KTV xác định ở mức thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC nhằm giảm khả năng sai sót tới một mức độ thấp hợp lý để tổng hợp ảnh hưởng của các sai sót không được điều chỉnh và không được phát hiện vượt quá mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC. Trong một số trường hợp, “mức trọng yếu thực hiện” có thể hiểu là mức giá trị hoặc các mức giá trị do KTV xác định thấp hơn mức hoặc các mức trọng yếu của một nhóm các giao dịch, số dư tài khoản hoặc thông tin thuyêt minh trên BCTC”.
Do đặc điểm của mức trọng yếu là xác định mức độ quan trọng và ảnh hưởng của các sai sót, do đó sẽ có những khoản mục có mức sai sót với giá trị lớn sẽ gây ảnh hưởng hoặc những khoản mục tuy có giá trị nhỏ nhưng chứa nhiều rủi ro và có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự đánh giá của người sử dụng BCTC. Thí dụ như việc thanh toán một khoản chi phí bất hợp pháp sẽ dẫn đến sự sai lệch về công nợ, lãi lỗ tài sản và doanh thu. Đây là một sai phạm có tác động dây chuyền. Vì vậy, tính trọng yếu của thông tin cần phải được xem xét cả về mặt định lượng và định tính: - Về mặt định lượng, được gọi là trọng yếu khi sai lệch trên BCTC cao hơn một số tiền nhất định và có thể gây ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng BCTC.
Việc xác lập mức trọng yếu mang tính kỹ thuật và xét đoán thể hiện qua những công thức tính mức trọng yếu cụ thể mà KTV sử dụng trong quá trình làm việc. Tuy nhiên, công thức hay cách thức nào sẽ được sử dụng trong một trường hợp cụ thể lại liên quan đến xét đoán nghề nghiệp của KTV. - Về mặt định tính, đó là những trường hợp tuy giá trị sai lệch thấp nhưng do bản chất của nó nên vẫn gây ra sai lệch trọng yếu. Việc xác định này phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của KTV về đơn vị được kiểm toán như môi trường, đặc điểm ngành nghề kinh doanh, tính chính trực của ban lãnh đạo, .kinh nghiệm làm việc và một số yếu tố khác có liên quan.
Việc xác định mức trọng yếu trên phương diện định tính nghiêng về xét đoán hơn là các vấn đề kỹ thuật đơn thuần. Những sai lệch trên cả hai mặt định lượng và định tính đều gây ảnh hưởng đến người sử dụng BCTC. Vì vậy, việc xác lập mức trọng yếu trong kiểm toán BCTC là hết sức quan trọng. KTV phải có nhận thức tốt về vấn đề đó để có kết quả kiểm toán trung thực và hợp lý.
4 Khái niệm về “Trọng yếu” và “Mức trọng yếu”là hoàn toàn khác nhau. TheoVSA số 320 thì: “Mức trọng yếu: Là một mức giá trị do KTV xác định tùy thuộc vào tầm quan trọng và tính chất của thông tin hay sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Mức trọng yếu là một ngưỡng, một điểm chia cắt chứ không phải là nội dung của thông tin cần phải có. Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét cả trên phương diện định lượng và định tính”.2 Qui mô và bản chất trong mối quan hệ của các khoản mục với trọng yếu 1.1 Về qui mô Nếu một nghiệp vụ, một khoản mục bị sai phạm có quy mô lớn đến mức quyết định bản chất của đối tượng kiểm toán thì nghiệp vụ, khoản mục đó được coi là trọng yếu.
Ngược lại, quy mô sai phạm chưa đủ lớn để làm thay đổi nhận thức về đối tượng kiểm toán thì khoản mục, nghiệp vụ không được coi là trọng yếu. Quy mô của trọng yếu không thể được coi là một số tuyệt đối, bởi vì một khoản mục, nghiệp vụ có quy mô nhất định, có thể là trọng yếu đối với công ty nhỏ nhưng lại không trọng yếu đối với công ty lớn. Vì thế, tính trọng yếu xét về mặt quy mô cần được đặt trong mối tương quan với toàn bộ đối tượng kiểm toán. Nghĩa là xem xét tỷ lệ của khoản mục nghiệp vụ so với một cơ sở tính toán tùy thuộc vào đặc trưng của từng KH.Việc xác định trọng yếu về mặt quy mô không phải dễ dàng vì vậy để có thể xác định đúng nội dung kiểm toán trên phương diện này chúng ta cần quán triệt các nguyên tắc cơ bản sau: • Quy mô trọng yếu phải được xác định.
Đó là việc xác định mức trọng yếu dựa trên đối tượng nào (BCTC, toàn bộ tài liệu kế toán hay thực trạng tài chính nói chung), đơn vị được kiểm toán thuộc loại hình DN nào (sản xuất, dịch vụ, xây lắp hay vận tải. Vì mỗi ngành, mỗi lĩnh vực có những đặc trưng riêng do đó quy mô trọng yếu là khác nhau. • Quy mô các khoản mục, nghiệp vụ không chỉ xét bằng một con số tuyệt đối mà cần phải đặt trong mối tương quan với các đối tượng kiểm toán khác. Về định lượng, đó là những tỷ lệ của các khoản mục, nghiệp vụ so với một cơ sở tính toán như: tổng tài sản, tổng doanh thu, tổng lợi nhuận trước thuế.
• Quy mô trọng yếu còn phụ thuộc vào đối tượng và mục tiêu của cuộc kiểm toán là kiểm toán BCTC, kiểm toán nghiệp vụ với các chức năng xác minh hay xác minh và tư vấn.2 Về bản chất Khái niệm trọng yếu gắn với tính hệ trọng của các nghiệp vụ, khoản mục. Thông thường, các khoản mục, nghiệp vụ có gian lận hoặc chứa đựng khả năng gian lận Chẳng hạn như: Các nghiệp vụ về tiền mặt do các nghiệp vụ này xảy ra thường xuyên, tiền mặt lại có đặc điểm gọn nhẹ, dễ biển thủ nên dễ xảy ra gian lận; các nghiệp vụ về mua bán và thanh toán do DN và KH hoặc nhà cung cấp có thể móc nối với nhau để báo cáo sai về thực trạng tài chính của mình; các nghiệp vụ bất thường do các nghiệp vụ này ít xảy ra 5 nhưng chúng lại có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của DN…thì thông thường được coi là trọng yếu. Ngoài ra, các sai sót hệ trọng cũng được xem là trọng yếu cho dù quy mô nhỏ.3 Đánh giá trọng yếu trong kiểm toán BCTC Trong kiểm toán BCTC, KTV không thể kiểm tra toàn bộ các chứng từ, nghiệp vụ do sự giới hạn về thời gian cũng như chi phí kiểm toán và giả sử KTV có thể kiểm tra 100% chứng từ, nghiệp vụ thì cũng rất khó để có thể phát hiện được hết các sai phạm. Vì vậy trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, việc nghiên cứu tính trọng yếu và xác lập mức trọng yếu là vô cùng cần thiết và có vai trò quan trọng đối với việc lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán với các mục đích cụ thể là ước tính mức độ sai sót của BCTC có thể chấp nhận được.
Việc dự kiến hợp lý về tính trọng yếu sẽ giúp KTV thu thập bằng chứng tương ứng phù hợp, xác định được bản chất, thời gian và phạm vi của các thử nghiệm kiểm toán.