CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu: Nêu lý do chọn đề tài; mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cũng như ý nghĩa của nghiên cứu. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CÓ LIÊN QUAN TRƯỚC ĐÂY 5 Trình bày cơ sở lý thuyết về báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính, các dạng ý kiến kiểm toán, các thuộc tính đại diện cho chất lượng lợi nhuận. Ngoài ra, tác giả còn tổng hợp các bài nghiên cứu trước đây về giá trị của báo cáo kiểm toán thông qua phản ứng của thị trường chứng khoán và khả năng phản ánh chất lượng lợi nhuận của các loại ý kiến kiểm toán khác nhau. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những giả thuyết cho bài nghiên cứu.
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trình bày chi tiết về phương pháp nghiên cứu gồm: mô hình nghiên cứu và các biến của mô hình, điều kiện và quy trình chọn mẫu, cách thu thập nguồn dữ liệu đầu vào, cách xác định giá trị các biến và các phương pháp định lượng được sử dụng để phục vụ việc nghiên cứu. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Trình bày kết quả kỳ vọng lý thuyết về mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và tính bền vững trong lợi nhuận của công ty sau đó tiến hành so sánh và thảo luận về kết quả kỳ vọng lý thuyết với kết quả đạt được từ mô hình. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN Trình bày tóm tắt các kết quả mà nghiên cứu đạt được cùng với các hạn chế của nghiên cứu và đề xuất những hướng nghiên cứu tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN TRƯỚC ĐÂY 2.1 Cơ sở lý thuyết về kiểm toán báo cáo tài chính và ý kiến kiểm toán 2.1 Khái niệm và vai trò của báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính “Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá các bằng chứng về một thông tin nhằm xác định và báo cáo về sự phù hợp của thông tin này với các tiêu chuẩn được thiết lập.
Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập. Do đó tất cả các cuộc kiểm toán đều phải kết thúc bằng một báo cáo để xác nhận những thông tin được kiểm toán là có phù hợp với những chuẩn mực đã được thiết lập hay không. Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán (Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12). Theo ISA 200, mục đích của kiểm toán báo cáo tài chính là làm tăng độ tin cậy của người sử dụng đối với báo cáo tài chính, thông qua việc kiểm toán viên đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không.
Đối với hầu hết các khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính cho mục đích chung, kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có được lập và trình bày trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không. 7 Như vậy, sau khi kết thúc việc kiểm toán, kiểm toán viên cần trình bày ý kiến kiểm toán một cách rõ ràng bằng văn bản, trong đó nêu rõ cơ sở của ý kiến đó. Văn bản đó chính là báo cáo kiểm toán. Theo VSA 700 trước đây, báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính là loại báo cáo bằng văn bản do kiểm toán viên và công ty kiểm toán lập và công bố để nêu rõ ý kiến chính thức của mình về báo cáo tài chính của một đơn vị đã được kiểm toán.
Salehi và Abedini (2008) cho rằng báo cáo kiểm toán là một phương tiện truyền thông giữa kiểm toán viên và người sử dụng báo cáo tài chính, nó cho thấy phần quan trọng nhất của hoạt động kiểm toán và thể hiện kết quả của việc đánh giá báo cáo tài chính đến người sử dụng. Đối với kiểm toán viên, báo cáo kiểm toán là tài liệu trình bày các kết luận sau cùng về báo cáo tài chính được kiểm toán, nên nó phải đúc kết được toàn bộ công việc mà họ đã tiến hành. Đối với công chúng, báo cáo kiểm toán là sản phẩm cuối cùng quan sát được từ một quá trình không thể quan sát nên nó chứa thông tin cốt yếu cho những người sử dụng báo cáo tài chính để đưa ra những quyết định kinh tế (Butler và cộng sự, 2004).2 Các loại ý kiến của Báo cáo kiểm toán Nhằm mục tiêu hướng đến hòa hợp và hội tụ với quốc tế trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán, Bộ Tài chính ban hành 37 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam mới kèm theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC ngày 06 tháng 12 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của tác giả là các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán từ 2009 – 2013 nên báo cáo kiểm toán được thu thập cho bài nghiên cứu chịu sự chi phối của chuẩn mực kiểm toán trước đây.
Phần này trình bày các loại ý kiến của báo cáo kiểm toán theo hai hệ thống chuẩn mực kiểm toán: Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam trước đây (Ban hành và công bố theo Quyết định 120/1999/QĐ-BTC ngày 27 tháng 09 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và hết hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014) 8 Theo đoạn 34 VSA 700 trước đây, căn cứ kết quả kiểm toán, kiểm toán viên đưa ra một trong các loại ý kiến về báo cáo tài chính, như sau: - Ý kiến chấp nhận toàn phần; - Ý kiến chấp nhận từng phần; - Ý kiến từ chối (hoặc ý kiến không thể đưa ra ý kiến); - Ý kiến không chấp nhận (hoặc ý kiến trái ngược); Đối với những báo cáo tài chính đã phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của đơn vị được kiểm toán, và phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành, kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần. Kiểm toán viên không thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần trong trường hợp xảy ra một trong các tình huống có thể ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính, như: - Phạm vi công việc kiểm toán bị giới hạn; - Bất đồng ý kiến với ban giám đốc; - Tình huống chưa rõ ràng. a) Trong trường hợp kiểm toán viên không thể thu thập đầy đủ và thích hợp các bằng chứng kiểm toán và không thực hiện được thủ tục thay thế phù hợp, nếu ảnh hưởng của việc giới hạn phạm vi kiểm toán nêu trên được xem là trọng yếu nhưng: + chưa ảnh hưởng đến tổng thể báo cáo tài chính thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần dạng ngoại trừ (do giới hạn phạm vi kiểm toán); + ảnh hưởng đến tổng thể báo cáo tài chính thì kiểm toán viên xem xét để đưa ra ý kiến từ chối (ý kiến không thể đưa ra ý kiến). b) Trong trường hợp kiểm toán viên và ban giám đốc bất đồng ý kiến về việc lựa chọn, áp dụng chuẩn mực và chế độ kế toán hoặc về sự không phù hợp của các thông tin 9 ghi trong báo cáo tài chính hoặc phần thuyết minh báo cáo tài chính dẫn đến sai lệch trọng yếu nhưng: + chưa ảnh hưởng đến tổng thể báo cáo tài chính thì kiểm toán việc đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần dạng ngoại trừ (do không thống nhất với ban giám đốc) + ảnh hưởng đến tổng thể báo cáo tài chính thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến không chấp nhận.
c) Đối với trường hợp tồn tại sự kiện không chắc chắn xảy ra trong tương lai, nằm ngoài khả năng kiểm soát của đơn vị được kiểm toán và kiểm toán viên, nếu sự kiện đó được xem là có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần dạng tùy thuộc vào. Bên cạnh việc đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính, kiểm toán viên cũng có thể trình bày đoạn nhấn mạnh về một số yếu tố ảnh hưởng không trọng yếu đến báo cáo tài chính nhưng không làm thay đổi ý kiến của kiểm toán viên. Các vấn đề thường được kiểm toán viên lưu ý là khi thông tin đính kèm với báo cáo tài chính không nhất quán với báo cáo tài chính, hoặc khi khách hàng còn tồn tại yếu tố không chắc chắn trọng yếu liên quan đến các sự kiện hoặc điều kiện gây ra nghi ngờ về giả định hoạt động liên tục và thông tin này đã được công bố đầy đủ trong phần thuyết minh báo cáo tài chính… Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành (Ban hành kèm theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 của Bộ Tài chính và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014) Chuẩn mực kiểm toán hiện hành gồm 37 chuẩn mực, trong đó có ba chuẩn mực quy định về báo cáo kiểm toán và ý kiến kiểm toán: - VSA 700: Hình thành ý kiến kiểm toán và báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính. - VSA 705: Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần 10 - VSA 706: Đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” và “Vấn đề khác” trong báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính.
VAS 700 hiện hành quy định ý kiến kiểm toán gồm hai dạng: Ý kiến chấp nhận toàn phần khi kiểm toán viên kết luận rằng báo cáo tài chính được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng. Ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần trong báo cáo kiểm toán được đưa ra trong các trường hợp: - Phạm vi công việc kiểm toán bị giới hạn; - Kiểm toán viên kết luận rằng báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, vẫn còn sai sót trọng yếu.