chương 1 của Nghị định 17/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 03 năm 2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật kiểm toán độc lập, đã có phân tích sâu hơn và hướng dẫn cụ thể: “Doanh nghiệp kiểm toán tại Việt Nam là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán theo quy định và đã được Bộ Tài chính Việt Nam cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán”.2 Cơ cấu tổ chức Hình thức tổ chức của các công ty kiểm toán ở Việt Nam bị chi phối bởi hình thức sở hữu công ty: (1) Đối với các công ty kiểm toán là doanh nghiệp nhà nước, tổ chức phụ thuộc vào cơ chế quản lý của nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước, trong đó, Giám đốc, người đứng đầu công ty do cơ quan thành lập bổ nhiệm (Bộ tài chính, UBND Thành phố). Cách thức tổ chức tại các công ty này theo chức danh và theo cơ cấu hành chính. Trách nhiệm công việc và tổ chức hoạt động theo chức danh quản lý. 15 (2) Đối với các công ty 100% vốn nước ngoài.
Các công ty này đều thuộc các công ty kiểm toán quốc tế, do vậy về cơ cấu tổ chức giống như các công ty quốc tế. Tuy nhiên vì là công ty được thành lập theo luật đầu tư nước ngoài ở Việt nam, thuộc hình thức công ty TNHH nên về tổ chức hành chính, ở các công ty này vẫn có chức danh Giám đốc và là đại diện pháp lý của công ty về các vấn đề hành chính trước các cơ quan chức năng cũng như trong các hoạt động kinh tế. (3) Đối với các công ty TNHH trong nước. Các công ty này đến nay qui mô vẫn rất hạn chế và chưa hình thành hình thức tổ chức rõ nét.
Tuy vậy, do hình thức sở hữu tư nhân, do vậy giám đốc công ty là chủ sở hữu, người theo pháp luật phải có chứng chỉ kiểm toán viên sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với mọi hoạt động của công ty. Qui mô của các công ty kiểm toán ở Việt Nam có sự khác biệt khá rõ nét. Nhìn chung các công ty kiểm toán là doanh nghiệp nhà nước có qui mô lớn hơn, có nhiều chi nhánh và văn phòng ở các thành phố lớn trong cả nước. Các công ty TNHH có qui mô hạn chế nhất, thường chỉ có một văn phòng chính nơi thành lập.
Các công ty kiểm toán có vốn đầu tư nước ngoài đều có văn phòng ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay, theo điều 21, chương 3 của Luật kiểm toán độc lập (2011) các doanh nghiệp kiểm toán tại Việt Nam tồn tại dưới các hình thức sở hữu sau: công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; công ty hợp danh; doanh nghiệp tư nhân; chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam. Nếu là công ty hợp danh, công ty kiểm toán thường có cơ cấu tổ chức bao gồm các cấp bậc là chủ phần hùn, chủ nhiệm, kiểm toán viên chính và kiểm toán viên phụ với trách nhiệm và quyền hạn như sau: 16 - Chủ phần hùn: là các kiểm toán viên cao cấp và có phần hùn trong công ty. Họ có thẩm quyền đại diện công ty kiểm toán để tiếp xúc với khách hàng và giải quyết các ý kiến bất đồng, giám sát nhân viên, ký báo cáo kiểm toán… - Chủ nhiệm: là những kiểm toán viên nhiều kinh nghiệm, thường được chủ phần hùn giao nhiệm vụ giám sát một số hợp đồng kiểm toán, như xem xét hồ sơ kiểm toán, xác định những thủ tục kiểm toán cần thiết, thảo luận với khách hàng… - Kiểm toán viên chính: là người được giao trách nhiệm lập kế hoạch kiểm toán, trực tiếp điều hành cuộc kiểm toán và soạn thảo báo cáo kiểm toán trình cho cấp trên xét duyệt.
- Kiểm toán viên phụ: là những trợ lý cho kiểm toán viên chính và thường thực hiện các nội dung chi tiết của chương trình kiểm toán. Trong các loại hình doanh nghiệp kiểm toán khác, hệ thống tổ chức cũng thường được thiết kế tương tự. Hiện nay, Việt Nam có 134 công ty kiểm toán đã đăng ký hành nghề, gồm: - 04 Công ty 100% vốn nước ngoài (E&Y, PwC, KPMG, Grant Thornton) - 05 Công ty có vốn đầu tư nước ngoài (E Jung, Mazars, HSK, Immanuel, S&S) - 124 Công ty TNHH - 01 Công ty hợp danh (CPA VN) (Nguồn: VACPA) 2.3 Xu hướng phát triển của các công ty kiểm toán tại Việt Nam Ở Việt Nam, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, các hoạt động đa dạng và phức tạp của nền kinh tế đòi hỏi phải có dịch vụ kiểm toán. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế, ngày 13/5/1991 17 Bộ Tài chính thành lập hai công ty kiểm toán đầu tiên là Công ty kiểm toán Việt Nam (VACO) và Công ty dịch vụ tư vấn Tài chính – Kế toán và Kiểm toán (AASC).
Sự ra đời của hai công ty nói trên đã tạo tiền đề cho sự ra đời của các công ty tiếp theo bởi sự hoạt động tích cực và có hiệu quả cũng như yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết của nền kinh tế nước ta trong những năm đổi mới. Sau hơn 20 năm hình thành và phát triển, ngành Kiểm toán độc lập còn non trẻ của Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc. Số lượng các công ty hoạt động trong ngành tăng lên nhanh chóng cùng với các dịch vụ cung cấp ngày càng đa dạng và chuyên nghiệp cho thấy hoạt động kiểm toán độc lập là một nhu cầu rất thiết thực của nền kinh tế, nhất là khi Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới. Báo cáo hoạt động hàng năm của VACPA cho thấy: Năm 2010 là năm đỉnh cao với 170 công ty kiểm toán, trong đó có 152 công ty đủ điều kiện hành nghề kiểm toán với số lượng nhân viên bình quân là 57 người/1 công ty.
Năm 2011 vẫn có 152 công ty với số lượng nhân viên bình quân là 56 người. Năm 2012 tăng lên 155 công ty với số lượng nhân viên bình quân là 65 người, đặc biệt năm 2013 số lượng công ty giảm mạnh, chỉ còn 134 công ty (giảm 14%) nhưng số lượng nhân viên bình quân là 78 người, tăng lên 20% so với năm 2012. Về công ty kiểm toán được công nhận là thành viên Hãng quốc tế cũng tăng nhẹ, năm 2010 và 2011 có 27 công ty, năm 2012 tăng 4%, năm 2013 tăng 11% so với năm trước tương ứng. Về công ty kiểm toán đủ điều kiện kiểm toán niêm yết, năm 2010 có 31 công ty, giảm 9% so với năm 2009, năm 2011 có 43 công ty, tăng 39%; năm 2012 và 2013 đều có 43 công ty, không tăng giảm so với năm 2011.
Đây là kết quả do cơ cấu lại, một số công ty trung bình có xu hướng sáp nhập để đủ quy mô đạt tiêu chuẩn, điều kiện kiểm toán niêm yết. 18 Trong hoàn cảnh khó khăn chung của nền kinh tế, ngành kiểm toán độc lập vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng về doanh thu và tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng về khách hàng, giá phí khách hàng có tăng, có giảm nhưng bình quân chung vẫn là tăng. Nếu tổng doanh thu toàn ngành năm 2010 là 2.744 tỷ đồng, tăng 25% so với năm 2009, năm 2011 tăng 11%, 2012 tăng 23% và năm 2013 tăng 11% so với năm trước tương ứng. Trong khi số lượng khách hàng (hợp đồng) năm 2010 là 29.023, tăng 12% so với năm 2009, năm 2011 tăng 7%, năm 2012 tăng 0% và năm 2013 tăng 8% so với năm trước tương ứng.
Như vậy tốc độ tăng doanh thu vẫn nhanh hơn tốc độ tăng khách hàng, vì giá phí bình quân trên một hợp đồng cũng tăng khá. Năm 2010 bình quân là 95 triệu đồng/hợp đồng, tăng 12% so với năm 2009, năm 2011 tiếp tục tăng 3%, 2012 tăng 23% và năm 2013 tăng 3% so với năm trước tương ứng. Năm 2014 là năm đầu tiên thực hiện đầy đủ Luật Kiểm toán độc lập về điều kiện đăng ký hành nghề kiểm toán (công ty kiểm toán phải có 5 KTV hành nghề, 3 tỷ đồng vốn pháp định…) đã làm rơi rụng 10 công ty kiểm toán nhỏ có KTV đủ điều kiện hành nghề nhưng chưa đủ 5 người, và 12 công ty không có KTV nào đủ điều kiện hành nghề kiểm toán. Các công ty kiểm toán Việt Nam có quy mô khá, đạt tiêu chuẩn, điều kiện kiểm toán doanh nghiệp niêm yết (vốn 4 tỷ, có 10 KTV hành nghề trên 24 tháng, có 150 khách hàng kiểm toán BCTC, trong đó có 10 khách hàng niêm yết) cũng đang gặp khó khăn trước yêu cầu mới, phải có đủ 6 tỷ đồng (tăng 50 %), có 15 KTV hành nghề (tăng 50%), có 300 khách hàng kiểm toán BCTC (tăng 200%), trong đó có 20 khách hàng niêm yết (tăng 100%)… trước 20/10/2015 (Thời hạn cuối cùng nộp hồ sơ đăng ký thực hiện kiểm toán khách hàng niêm yết).
Các công ty kiểm toán có quy mô vừa đạt tiêu chuẩn, điều kiện kiểm toán đơn vị có lợi ích công chúng (vốn 4 tỷ đồng, có 7 KTV hành nghề trên 24 tháng, có 100 khách hàng kiểm toán BCTC, trong đó có 5 khách hàng là đơn vị có lợi ích 19 công chúng) cũng gặp những khó khăn tương tự: phải có đủ 6 tỷ đồng (tăng 50%), có 10 KTV hành nghề (tăng 43%), có 250 khách hàng kiểm toán BCTC (tăng 250%) trong đó có 10 khách hàng là đơn vị có lợi ích công chúng (tăng 100%)… trước 20/10/2015 như nói trên. Như vậy, có thể thấy để đảm bảo một số yêu cầu theo luật định, các công ty kiểm toán nhỏ đang có xu hướng sáp nhập để đủ quy mô đạt tiêu chuẩn, điều kiện kiểm toán niêm yết. Bên cạnh đó, các công ty kiểm toán độc lập cũng đang nỗ lực để thực hiện các tiêu chuẩn, mở rộng quan hệ đối ngoại nhằm đáp ứng được các yêu cầu trở thành đại diện, thành viên của các hãng kiểm toán quốc tế trên thế giới.3 Kiểm toán viên 2.1 Định nghĩa Theo điều 5, chương 1 Luật Kiểm toán độc lập (2011): “Kiểm toán viên là người được cấp chứng chỉ kiểm toán viên theo quy định của pháp luật hoặc người có chứng chỉ của nước ngoài được Bộ Tài chính công nhận và đạt kỳ thi sát hạch về pháp luật Việt Nam.” “Kiểm toán viên hành nghề là kiểm toán viên đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề kiểm toán.