CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài Các nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực: Yu-Shu Cheng Yi-Pei Liu Chu-Yang Chien, (2009),"The association between auditor quality and human capital". Kết quả cho thấy chất lượng NNL kiểm toán tại các đơn vị này đều chịu ảnh hưởng của các nhân tố trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc, trình độ chuyên môn, đào tạo chuyên môn có tác động đến chất lượng NNL kiểm toán. Nghiên cứu xác định các thành phần trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc, trình độ chuyên môn, đào tạo chuyên môn các biến độc, chất lượng NNL kiểm toán là biến phụ thuộc. Theo tác giả này, sự hiện diện và hoạt động đầy đủ, hữu hiệu của tất cả các thành phần của các biến độc lập đảm bảo tính chất lượng của NNL kiểm toán.
Mô hình nghiên cứu của nghiên cứu này được thể hiện như sau: Trình độ học vấn Kinh nghiệm làm việc Chất lượng NNL Kiểm toán Trình độ chuyên môn Đào tạo chuyên môn Hình 1.1 Mô hình nghiên cứu của Yu-Shu Cheng Yi-Pei Liu Chu-Yang Chien, (2009) 7 Svetlana P. Matushkina and Pavel A. “Audit of training of digital personnel for regional economy in the conditions of Industry 4. Mục đích của nghiên cứu này là phát triển sự cung cấp khoa học và phương pháp luận của một cuộc kiểm toán đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật số cho nền kinh tế khu vực trong điều kiện của Công nghiệp 4.
Bằng ví dụ về các trường đại học hàng đầu khu vực của nước Nga hiện đại. Thiết kế/phương pháp/ cách tiếp cận - Các tác giả sử dụng phương pháp phân tích hồi quy để xác định sự phụ thuộc của mức độ số hóa nền kinh tế của các khu vực vào khả năng cạnh tranh của các trường đại học. Nghiên cứu được thực hiện bằng ví dụ về các vùng của Quận Liên bang Volga của Liên bang Nga, trong đó có các trường đại học hàng đầu khu vực tính đến đầu năm 2019. Kết quả - Người ta xác định rằng kiểm toán đào tạo nhân lực kỹ thuật số cho nền kinh tế khu vực trong các điều kiện của Công nghiệp 4.0 ở Nga hiện đại được tiến hành trong phạm vi khảo sát hiệu quả của các trường đại học của Bộ Giáo dục và Khoa học Liên bang Nga.
Hầu hết các chỉ số cần thiết cho việc đánh giá việc đào tạo nhân lực kỹ thuật số cho nền kinh tế khu vực trong điều kiện của Công nghiệp 4.0 không được tính đến. Dữ liệu khảo sát cho phép biên soạn một ý tưởng về tiềm năng của một trường đại học hàng đầu khu vực trong việc đào tạo nhân lực kỹ thuật số cho nền kinh tế khu vực trong các điều kiện của Công nghiệp 4.0, trong khi kết quả của quá trình đào tạo này không được đánh giá hoặc kiểm soát. Điều này dẫn đến tiềm năng thấp và hiệu quả thấp của các trường đại học hàng đầu trong khu vực của Nga trong việc đào tạo nhân lực kỹ thuật số cho kinh tế khu vực trong điều kiện Công nghiệp 4. “Auditor human capital and audit firm survival”.
Bài báo này nghiên cứu mối quan hệ giữa nguồn nhân lực của kiểm toán và sự tồn tại của công ty kiểm toán. Cụ thể, các tác động là điều tra về nguồn nhân lực của kiểm toán viên về cơ hội sống sót của các công ty kiểm toán mới thành lập. Nguồn nhân lực được phân tích cả tại thời điểm thành lập công ty kiểm toán mới và trong suốt thời gian hoạt động của công ty kiểm toán. Có hai kết quả chính của 8 nghiên cứu.
Thứ nhất, trình độ học vấn cao hơn của kiểm toán viên trong công ty kiểm toán, cả khi thành lập và trong suốt thời gian tồn tại của công ty kiểm toán, thường làm tăng hiệu quả hoạt động của công ty kiểm toán. Thứ hai, ảnh hưởng của kinh nghiệm khi thành lập và kinh nghiệm trong suốt thời gian tồn tại của công ty kiểm toán khác nhau đáng kể. Cấp độ cao hơn kinh nghiệm khi thành lập có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của công ty kiểm toán. Tuy nhiên, mức độ kinh nghiệm cao hơn trong suốt thời gian tồn tại của công ty kiểm toán, tức là sự già đi của các kiểm toán viên của công ty đó, có ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của công ty.
Như vậy ta thấy được hai yếu tố trình độ học vấn và kinh nghiệm của kiểm toán viên có ảnh hưởng đến chất lượng nguồn ngân lực, là hạt nhân trong sự tồn tại vững bền của công ty kiểm toán. (2008), “The association between continuing professional education and financial performance of public accounting firms”. Nghiên cứu này nghiên cứu mối quan hệ giữa giáo dục chuyên nghiệp thường xuyên (CPE), cơ chế đào tạo chuyên nghiệp và hoạt động tài chính của các công ty kế toán công. Cả chủ đề đào tạo (đối tác và trợ lý) và địa điểm đào tạo (nội bộ và bên ngoài) đều được bao gồm.
Các công ty kế toán công được phân loại là các công ty quy mô lớn, vừa và nhỏ. Dữ liệu thực nghiệm được lấy từ Báo cáo khảo sát 1992–1995 về các công ty kế toán công ở Đài Loan, được xuất bản bởi Ủy ban Giám sát Tài chính, Executive Yuan, Đài Loan, ROC. Kiểm tra đơn biến và mô hình hồi quy bội được sử dụng để kiểm tra các ảnh hưởng về hoạt động tài chính của CPE. Các kết quả chính chỉ ra rằng cả đào tạo chuyên môn cho trợ lý và đào tạo chuyên môn bên ngoài đều có liên quan tích cực đến hoạt động tài chính ở các doanh nghiệp quy mô lớn.
Tiếp theo, chúng tôi ghi nhận mối liên hệ tích cực đáng kể giữa đào tạo nội bộ các trợ lý và hiệu quả hoạt động tài chính ở các công ty quy mô lớn, vừa hoặc nhỏ. Cuối cùng, cả việc đào tạo chuyên môn bên ngoài cho các đối tác trong các doanh nghiệp quy mô lớn và đào tạo chuyên môn bên ngoài cho các trợ lý trong các doanh nghiệp quy mô nhỏ đều có liên quan tích cực đến hoạt động tài chính. Rất ít nghiên cứu trước đây điều tra việc đào tạo nghiệp vụ của các công ty kế toán công bằng mô hình hồi quy do có sẵn dữ liệu thực nghiệm. Theo đó, 9 bằng chứng thu được trong nghiên cứu này cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tác trong việc ra quyết định trong các công ty kế toán đại chúng trong thị trường kiểm toán cạnh tranh đáng kể.2 Các công trình nghiên cứu trong nước Qua quá trình nghiên cứu và tham khảo các tài liệu khác nhau về đề tài nghiên cứu.
Tác giả nhận thấy có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến việc xác định các nhân tố tác động đến chất lượng nguồn nhân lực. Tác giả xin nêu ra một số công trình tiêu biểu: Son Tung Ha, Hoai Dung Thi Nguyen, Ngoc Anh Thi Nguyen, Duc Tai Do, 2019. Với nghiên cứu “The outside determinants influencing quality of accounting human resources for sustainability through the lens accounting service firms in Hanoi, Vietnam”. Tác giả đã nghiên cứu tập trung vào 3 yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực kế toán, đó là Hội nhập quốc tế về kế toán, Chính sách phát triển nguồn nhân lực kế toán và Nhu cầu thị trường lao động kế toán.
Tác giả tiến hành một bảng câu hỏi bao gồm 10 biến quan sát với thang điểm Likert 5 điểm. Các biến độc lập được đo lường từ 1 “không ảnh hưởng” đến 5"Mạnh mẽ". Phương pháp thu thập số liệu được thực hiện thông qua khảo sát và đối tượng là các kế toán viên của Dịch vụ Kế toán Các doanh nghiệp kinh doanh tại Hà Nội. Tác giả đã gửi 200 bảng câu hỏi và nhận được phản hồi là 160.
Sau khi kiểm tra thông tin trên phiếu có 145 phiếu điều tra với đầy đủ thông tin để nhập và phân tích dữ liệu, quy mô của mẫu này là phù hợp với nghiên cứu của Hair et al. Do đó, phần còn lại của các quan sát cho mô hình là 145 khảo sát, bao gồm 100% người tham gia là kế toán trưởng, kế toán tổng hợp và nhân viên kế toán tại các Công ty Kế toán trên địa bàn Hà Nội. Những người tham gia hầu hết đều có bằng Cử nhân trở lên. Có thể thấy, tất cả những người tham gia đều đạt chất lượng cao kiến thức kế toán và điều này làm cho câu trả lời của các cuộc khảo sát trở nên đáng tin cậy.
Tác giả đã sử dụng phân tích và 10 hồi quy EFA mô hình xác định mức độ tác động của các yếu tố bên ngoài quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực kế toán. Hội nhập quốc tế chính sách kế toán Chất lượng Chính sách phát NNL Kế triển nguồn nhân lực toán kế toán Nhu cầu thị trường lao động kế toán Hình 1.2 Mô hình nghiên cứu của Son Tung Ha, Hoai Dung Thi Nguyen, Ngoc Anh Thi Nguyen, Duc Tai Do, 2019 Duc Tai Do và các cộng sự (2019), “Determinants Influencing The Quality Of Accounting Human Resources: The Case of Hanoi, Vietnam”. Kết quả nguyên cứu xác định ba yếu tố quyết định ảnh hưởng đến chất lượng của nguồn nhân lực kế toán, gồm Văn hóa kinh doanh (BC), Thu nhập (I), Giáo dục và đào tạo (ET). Sau đó, tác giả tiến hành một bảng câu hỏi bao gồm 11 biến quan sát với thang điểm Likert 5 điểm.
Các biến độc lập được đo lường từ 1 "không có hiệu lực "đến 5". Phương pháp thu thập dữ liệu được thực hiện thông qua cuộc khảo sát và đối tượng là kế toán tại các Doanh nghiệp Dịch vụ Kế toán đang kinh doanh trên địa bàn Hà Nội. Văn hóa kinh doanh Chất lượng Thu nhập NNL Kế toán Giáo dục và đào tạo Hình 1.3 Mô hình nghiên cứu của 11 Duc Tai Do và các cộng sự (2019) Trần Hùng, Hà Thị Duy Linh, 2018. “Các yếu tố tác động đến chất lượng nguồn nhân lực của các DNNVN trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng”.
Kết quả nguyên cứu cho thấy, có 3 yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực của Doanh nghiệp và mức độ quan trọng của các yếu tố lần lượt là Kỹ năng và nhân cách; Kiến thức; và Thể lực. Kỹ năng Nhân cách Chất lượng NNL Kiến thức Thể lực 1.4 xáchình xét,Mô địnhnghiên khoảngcứutrống và định của Trần hướng Hùng, Hà Thị Duy Linh, nghiện cứu 2018 1.