CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC THUỘC TÍNH CÁ NHÂN CỦA KIỂM TOÁN VIÊN ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN 1.1 Tổng quan về chất lượng kiểm toán 1.1 Định nghĩa về chất lượng Trong từ điển Tiếng Việt thì: “Chất lượng là một phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật để phân biệt nó với các sự vật khác. Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật. Chất lượng biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính.
Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật. Sự vật trong khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó. Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật về căn ản. Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính quy định về số lượng của nó và không thể tồn tài ngoài tính quy định ấy.
Mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất của chất lượng và số lượng”.2 Định nghĩa về chất lượng kiểm toán Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 220 - VSA220 (2003, trang 2) - Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán thì: “Chất lượng hoạt động kiểm toán là mức độ thoả mãn của các đối tượng s dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của KTV; đồng thời thoả mãn mong muốn của đơn vị được kiểm toán về những ý kiến đóng góp của KTV, nh m nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, trong thời gian định trước với giá phí hợp l ”. Tuy nhiên, do kiểm toán là loại hình dịch vụ đặc biệt nên CLKT rất khó có thể quan sát, đo lường và kiểm tra. Kết quả của một cuộc kiểm toán được s dụng bởi nhiều đối tượng khác nhau, mỗi đối tượng s dụng báo cáo kiểm toán với những mục đích khác nhau nên quan điểm và yêu cầu của họ về CLKT cũng khác nhau. Do đó cũng có rất nhiều định nghĩa về CLKT: Ch ng hạn, theo DeAngelo (1981), CLKT là khả năng KTV: 1) phát hiện sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính của khách hàng.
123doc 7 2) báo cáo các sai sót trọng yếu đó Hay định nghĩa CLKT dựa trên khía cạnh mức độ đảm bảo cho r ng vì mục đích của kiểm toán là để cung cấp đảm bảo trên báo cáo tài chính (BCTC) cho nên CLKT là xác suất mà BCTC không chứa sai sót trọng yếu (Palmrose, 1988). Trong thực tế, định nghĩa này s dụng kết quả kiểm toán, có nghĩa là, độ tin cậy của BCTC được kiểm toán để phản ánh CLKT. Có một số định nghĩa khác về CLKT trong các tài liệu đề cập đến các trách nhiệm của KTV trên các khía cạnh của quá trình kiểm toán, mục tiêu của cuộc kiểm toán. Văn phòng Kiểm toán Chính phủ Mỹ - GAO (2003) định nghĩa CLKT là việc thực hiện “tuân thủ chuẩn mực kiểm toán chung được chấp nhận (GAAs) để cung cấp đảm bảo hợp lý r ng các BCTC đã được kiểm toán và thuyết minh liên quan (1) trình bày theo các nguyên tắc kế toán chung được chấp nhận (GAAP) và (2) không bị sai sót trọng yếu cho dù là do sai sót hoặc gian lận”.
Những nhà nghiên cứu khác lại tập trung vào việc phát hiện lỗi và kết quả BCTC, họ cho r ng một cuộc kiểm toán có chất lượng cao s phát hiện được sai sót trong báo cáo thu nhập và nâng cao độ tin cậy của BCTC (Chan và Wong, 2002; Gul và cộng sự, 2002; Behn và cộng sự, 2008; Chang và cộng sự, 2009). Xa hơn nữa, một số nghiên cứu chỉ ra r ng CLKT có liên quan trực tiếp đến số lượng công việc kiểm toán (Carcello và cộng sự, 2002). Tuy có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này, tuy nhiên có một giả định thông thường r ng KTV càng thực hiện nhiều thủ tục kiểm toán thì càng có nhiều cơ hội thu thập được các b ng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp từ đó góp phần nâng cao CLKT. Tóm lại, hiện nay không có định nghĩa thống nhất về CLKT.
Nhận thức (quan điểm) về CLKT phụ thuộc rất nhiều vào việc nó được nhìn nhận dưới con mắt người s dụng, KTV, người làm luật hay xã hội - tất cả những người có liên quan đến BCTC có thể có những quan điểm rất khác nhau về những yếu tố cấu thành CLKT mà ảnh hưởng đến các chỉ số mà qua đó người ta có thể s dụng để đánh giá CLKT. 123doc 8 Người s dụng BCTC có thể tin r ng CLKT cao có nghĩa là không có sai sót trọng yếu. Kiểm toán viên thực hiện kiểm toán có thể định nghĩa một cuộc kiểm toán có chất lượng cao khi mà cuộc kiểm toán đó thỏa mãn việc hoàn thành tất cả các nhiệm vụ theo yêu cầu của phương pháp kiểm toán của công ty. Công ty kiểm toán có thể đánh giá CLKT cao khi mà công việc của họ có thể được bảo vệ chống lại thách thức trong một cuộc kiểm tra hoặc cáo buộc tại tòa án.
Cơ quan quản lý có thể xem một kiểm toán là có chất lượng cao khi nó tuân thủ các tiêu chuẩn nghề nghiệp. Cuối cùng, xã hội có thể xem cuộc một kiểm toán là có chất lượng cao khi nó có thể tránh các vấn đề tổn thất về kinh tế cho một công ty hoặc thị trường. Nói tóm lại, đối với các quan điểm khác nhau đòi hỏi cách thức nghiên cứu khác nhau về CLKT.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán Như đã nói ở trên có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CLKT, do đó ứng với mỗi định nghĩa khác nhau s dẫn đến những cách thức đo lường CLKT khác nhau cho nên các yếu tố ảnh hưởng đến CLKT cũng khác nhau. Th o định nghĩa của DeAngelo về CLKT thì có thể thấy có hai thành phần ảnh hưởng đến CLKT.
Thành phần đầu tiên trong định nghĩa của DeAngelo liên hệ đến khả năng của một KTV và mức độ nỗ lực của KTV đó - khả năng KTV phát hiện ra những sai sót trọng yếu trong khi thành phần thứ hai trong định nghĩa này liên hệ đến tính khách quan của một KTV, tính hoài nghi nghề nghiệp và tính độc lập - khả năng KTV báo cáo những sai sót trọng yếu đó. Hai thành phần này cũng cho thấy các khía cạnh khác nhau của cuộc kiểm toán có thể ảnh hưởng đến CLKT tổng thể. Việc phát hiện ra một sai sót trọng yếu đòi hỏi các nguồn lực thích hợp được s dụng hiệu quả trong quá trình kiểm toán (ví dụ đầu vào và quá trình) trong khi báo cáo một sai sót trọng yếu đòi hỏi KTV phải có hành động thích hợp trong bối cảnh hiện tại vào cuối cuộc kiểm toán (tức là đầu ra và bối cảnh). Theo Francis, ông đề ra một khuôn khổ cho sự hiểu biết và nghiên cứu CLKT.
Ông lưu r ng CLKT là một khái niệm phức tạp và là một thể liên tục (Francis, 2011). Francis lập luận r ng CLKT bị ảnh hưởng bởi sáu nhân tố bao 123doc 9 gồm: (1) đầu vào kiểm toán (các th nghiệm kiểm toán và nhân sự của cuộc kiểm toán), (2) quy trình kiểm toán (việc áp dụng các th nghiệm kiểm toán của KTV), (3) công ty kiểm toán (KTV làm việc trong công ty kiểm toán, công ty kiểm toán thuê, đào tạo và trả lương cho KTV cũng như xây dựng các quy trình kiểm toán, báo cáo kiểm toán được phát hành dưới tên của công ty kiểm toán), (4) ngành công nghiệp kiểm toán và thị trường kiểm toán (các công ty kiểm toán cấu thành ngành công nghiệp kiểm toán, cấu trúc của ngành công nghiệp kiểm toán s ảnh hưởng đến thị trường và hành vi kinh tế), (5) thể chế (thể chế ảnh hưởng đến hoạt động kiểm toán và tạo động lực nâng cao CLKT như Hội đồng kế toán Hoa Kỳ, AICPA, FASB, SEC, and PCAOB, cũng như các hệ thống pháp lý rộng hơn), (6) tác động kinh tế của kết quả kiểm toán (kết quả của cuộc kiểm toán ảnh hưởng đến khách hàng và người s dụng các thông tin đã được kiểm toán). Còn theo Hội đồng BCTC của Vương quốc Anh - FRC, sau khi tham khảo ý kiến rộng rãi, FRC xác định năm nhân tố chi phối CLKT bao gồm: (1) văn hóa trong công ty kiểm toán, (2) các kỹ năng và phẩm chất cá nhân của các chủ phần hùn kiểm toán và nhân viên kiểm toán, (3) hiệu quả của quá trình kiểm toán; (4) độ tin cậy và tính hữu dụng của báo cáo kiểm toán, và (5) các yếu tố bên ngoài sự kiểm soát của KTV như sự hỗ trợ của ban quản trị, ban kiểm toán, và cổ đông đối với KTV (FRC, 2008). Tóm lại các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT có thể được chia thành các nhóm sau (dựa trên quan điểm của Francis): 1.1 Yếu tố đầu vào của một cuộc kiểm toán Đầu vào của một cuộc kiểm toán bao gồm các thủ tục kiểm toán được s dụng và nhân sự của cuộc kiểm toán.
Chất lượng đầu vào của cuộc kiểm toán chủ yếu phản ánh trong đặc điểm cá nhân của đội ngũ kiểm toán viên như tính hoài nghi nghề nghiệp, kiến thức và chuyên môn. Cuộc kiểm toán có chất lượng cao hơn khi KTV đưa ra quyết định đ ng trong các th nghiệm kiểm toán và đánh giá một cách thích hợp b ng chứng thu được từ các th nghiệm đó để làm căn cứ cho báo cáo kiểm toán.2 Quá trình kiểm toán Quá trình kiểm toán là quá trình đội ngũ KTV áp dụng các thủ tục kiểm toán để thu thập các b ng chứng kiểm toán. Đây là quá trình thực hiện những quyết định và xét đoán của KTV thể hiện trong việc lập kế hoạch, thu thập, giải thích và phân tích các b ng chứng kiểm toán để đáp ứng yêu cầu của chuẩn mực kiểm toán nh m thu thập đầy đủ b ng chứng kiểm toán thích hợp cho việc đưa ra kiến trên báo cáo kiểm toán.3 Công ty kiểm toán Công ty kiểm toán đóng vai trò rất quan trọng trong việc tìm hiểu CLKT bởi vì các công ty kiểm toán thuê và đào tạo KTV và tạo động lực cho KTV thông qua tiền lương và các chính sách khác. Công ty kiểm toán cũng thiết kế các chương trình và thủ tục kiểm toán hướng dẫn quy trình thu thập b ng chứng kiểm toán.
Công ty kiểm toán cũng có cấu trúc quản trị nội bộ để đảm bảo CLKT tuân thủ theo các chính sách kiểm toán.