phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn đƣợc cấu trúc thành ba chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận về xây dựng tiêu chí năng lực cho KTV trung cấp Chƣơng 2. Thực trạng đào tạo và nhu cầu thị trƣờng lao động về chuyên ngành điện tử tại Đồng Nai Chƣơng 3. Xây dựng tiêu chí năng lực cho KTV trung cấp chuyên ngành điện tử tại trƣờng TH KTCN ĐN.
Trang 3 Luan van Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG TIÊU CHÍ NĂNG LỰC CHO KTV TRUNG CẤP 1.1 CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.1 Tiêu chuẩn nghề Khái niệm Khái niệm tiêu chuẩn nghề (Occupational Standards) hay tiểu chuẩn kỹ năng nghề (Competency Skill Standards) đƣợc hiểu thống nhất tƣơng đối nhƣ sau: tiêu chuẩn nghề là những công bố xác định cụ thể về các kiến thức, kỹ năng và thái độ đòi hỏi người lao động phải có trong một nghề nhất định và về trình độ của sự thực hiện hay năng lực thực hiện (Tiêu chí/ Tiêu chuẩn thực hiện) mà người đó phải đạt được để hành nghề có kết quả. Các thành phần của tiêu chuẩn nghề Tiêu chuẩn nghề gồm 5 thành phần chủ yếu sau: a. Sự thực hiện (hành động hoặc kỹ năng cần thực hiện): Trong cấu phần này cần trình bày ngắn gọn, bắt đầu bằng động từ chỉ hành động về công việc/kỹ năng mà ngƣời lao động cần thực hiện.
Điều kiện thực hiện: Bao gồm các thông tin, công cụ, trang thiết bị và các nguồn lực cần thiết khác cung cấp cho ngƣời lao động để thực hiện công việc/hành động. Tiêu chuẩn/ Tiêu chí của sự thực hiện: Trong cấu phần này trình bày các tiêu chí dùng để xác định mức độ cần đạt đƣợc của sự thực hiện. Chúng có thể bao gồm các đặc tính của sản phẩm (ví dụ hình dạng, kích thƣớc,.), các yêu cầu về quá trình hoặc quy trình (ví dụ các quy định về an toàn), các yêu cầu về thời gian và độ chuẩn xác. Kiến thức và khả năng có liên quan: Bao gồm các kiến thức và khả năng mà ngƣời lao động (ngƣời tốt nghiệp) cần có để thực hiện công việc hoặc kỹ năng.
Phƣơng pháp đánh giá và lập sơ đồ: Trong nội dung này ghi ra các phƣơng pháp đƣợc dùng để đánh giá hoặc đo lƣờng sự thực hiện công việc của một ngƣời và quy trình lập hồ sơ về kết quả đánh giá.2 Tiêu chí năng lực Khái niệm tiêu chí “Tiêu chí là đặc trƣng, dấu hiệu làm cơ sở, căn cứ để nhận biết, xếp loại các sự vật, các khái niệm” [21, trang 1640] “Tiêu chí là dấu hiệu dựa vào mà đánh giá hay là cơ sở của một điều phê phán”. Tiêu chí gồm nhiều chỉ số. [24] Chỉ số là mức độ yêu cầu và điều kiện về một thành phần cụ thể của tiêu chí. [7, trang 1819] Khi xác định vấn đề đào tạo, cần xác định tiêu chí về những gì ngƣời lao động cần thực hiện đƣợc.
Có hai quan điểm về tiêu chí: Trang 4 Luan van Thứ nhất, theo Springer, 1980: tiêu chí là tiêu chuẩn thực hiện, tức là chuẩn thấp nhất có thể chấp nhận đƣợc về sự thực hiện công việc. Thứ hai, theo Odiorne, 1979: tiêu chí là mục tiêu thực hiện, tức là những mong đợi về sự thực hiện công việc .[1] Vì vậy trong phạm vi nội dung đề tài, tác giả nhận thấy tiêu chí là những dấu hiệu, tính chất làm căn cứ để đánh giá kết quả của sự thực hiện công việc. Khái niệm tiêu chuẩn Tiêu chuẩn là “điều quy định làm căn cứ để đánh giá” hay “mức quy định đƣợc hƣởng, đƣợc cung cấp theo chế độ”.[21] Ngoài ra, theo TS. Nguyễn Đức Trí-Viện chiến lƣợc và chƣơng trình giáo dục: “Tiêu chuẩn là những quy định về yêu cầu, chỉ tiêu đƣợc đặt ra tuân thủ những nguyên tắc nhất định, đƣợc dùng làm thƣớc đo đánh giá hoạt động, công việc, sản phẩm, dịch vụ,v.trong một lĩnh vực nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng của con ngƣời”.
Tiêu chuẩn thƣờng do các tổ chức, cơ quan đƣợc công nhận và ủy quyền hoặc có trách nhiệm tiến hành xây dựng và ban hành. Tiêu chuẩn thƣờng phải đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, của ngành hay lĩnh vực đời sống xã hội nào đó thông qua một quá trình xây dựng, trong đó việc lấy ý kiến và thảo luận rộng rãi với những ngƣời liên quan là đòi hỏi có tính nguyên tắc bắt buộc. Và thuật ngữ tiêu chuẩn NL nghề nghiệp đƣợc xác định đó là “một tập hợp các quy định tối thiểu về các công việc cần làm và mức độ cần đạt đƣợc khi thực hiện các công việc đó trong điều kiện trang thiết bị, dụng cụ ở cấp trình độ nghề tƣơng ứng phù hợp với thực tế; và những kiến thức cần thiết làm cơ sở cho việc thực hiện các công việc trên”. Năng lực đó gồm KSA mà một ngƣời cần có để thành công tại nơi làm việc.
Khái niệm năng lực Theo từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, xuất bản năm 2002 “năng lực” đƣợc hiểu là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẳn có để thực hiện một hoạt động nào đó” hoặc “là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con ngƣời khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lƣợng cao” Năng lực là khả năng ứng dụng hiểu biết và kỹ năng chuyên môn một cách có kết quả trong thực tiễn.[13] Năng lực là phẩm chất sinh lý, tâm lý tạo cho con ngƣời khả năng hoàn thành một loại hoạt động đó với chất lƣợng cao. Hay năng lực là sự tổng hợp nhiều kỹ năng và kiến thức để thực hiện thành công một nhiệm vụ.[19] Trong lí luận day học hiện nay, khái niệm “năng lực” gần nhƣ đƣợc nhiều ngƣời thừa nhận bao gồm ba thành tố với chức năng ngang nhau, thể hiện nhƣ sau: Kiến thức Thái độ Kỹ năng Trong đó: Trang 5 Luan van Kiến thức là những điều hiểu biết đƣợc, hoặc do từng trải, hoặc nhờ học tập; hay kiến thức là tổng thể của các tri thức có thể ứng dụng đƣợc phù hợp với tình huống một cách nhanh chóng và chính xác. Kiến thức đƣợc phân thành hai loại chính: kiến thức hiện đƣợc thể hiện trên các vật mang tri thức nhƣ: sách, tài liệu, đĩa mềm, băng video,.và có khả năng lan truyền rộng rãi. Loại thức hai là kiến thức ngầm đƣợc tích lũy trong từng bộ não con ngƣời hoặc một tổ chức cần thiết cho việc khai thác và sự dụng kiến thức hiện đã đƣợc điển chế hóa.
Vì vậy quá trình đào tạo là quá trình thực hiện sự phát triển và chuyển hóa lẫn nhau giữa kiến thức ngầm và kiến thức hiện. Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận đƣợc trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế. Kỹ năng là những thuộc tính khác nhau của nhân cách (những đặc điểm của cá nhân) tạo tiền đề cho việc thực hiện thành công những hoạt động nhất định.[13] Kỹ năng xuất hiện trên cơ sở các tri thức và kinh nghiệm lao động thuộc về cá nhân, nó phát triển với tốc độ khác nhau và đạt tới trình độ khác nhau, góp phần vào việc phát triển năng khiếu và tài năng. Có một kỹ năng không đủ mà phải có nhiều kỹ năng thì con ngƣời mới thực hiện đƣợc một loạt hoạt động nào đó.
Quá trình hình thành kỹ năng là quá trình vận dụng các kiến thức, hiểu biết, kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn. Do đó có thể nói kỹ năng là kiến thức trong hoạt động. Kỹ năng nghề nghiệp là khả năng vận dụng những kiến thức nghề nghiệp thu nhận đƣợc vào thực tế. Thái độ là những biểu hiện ra bên ngoài (bằng nét mặt, cử chỉ, hành động, lời nói) của ý nghĩ, tình cảm với ai, hoặc đối với sự việc nào đó.
Thái độ nghề nghiệp là sự phản ánh mối quan hệ giữa ý nghĩa, giá trị, yêu cầu, điều kiện của nghề nghiệp với thế giới quan của mỗi cá nhân và đƣợc biểu hiện cụ thể trong học nghề, hành nghề.[16] Đối với học sinh, học tập là một quá trình nhận thức và hành động nhằm thu nhận kiến thức mới, hình thành và phát triển kỹ năng trí tuệ và hành động trong một lĩnh vực cụ thể góp phần hình thành và phát triển nhân cách, tạo ra thái độ và giá trị đúng đắn trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp của mỗi cá nhân trong xã hội. Quá trình nhận thức và hình thành kỹ năng, thái độ nghề nghiệp của HS đƣợc thể hiện qua sơ đồ sau: Trang 6 Luan van Nhận thức cảm tính Nhận thức lý tính Hành động thực tiễn Trực quan Tƣ duy trừu Hình thành Vận dụng sinh động tƣợng khái niệm thực tiễn (tri thức) Lao động nghề Hình thành nghiệp: Hình thành Luyện tập các thao tác, - Các kiến kỹ năng/ động tác thức thái độ thực hành - Các kỹ năng - Thái độ Hình 1 : Sơ đồ về quá trình nhận thức và hình thành kỹ năng, thái độ nghề nghiệp Ngoài ra trong lĩnh vực đào tạo nghề nghiệp, ngƣời ta hiểu “Năng lực là khả năng bao gồm kiến thức, kỹ năng và thái độ thực hiện nhiệm vụ một cách thành công theo chuẩn xác định” (TITI Master Document. Thuật ngữ năng lực thực hiện có lẽ để chỉ rõ hơn khả năng thực hành nghề nghiệp trong lĩnh vực đào tạo. Do vậy năng lực đƣợc hiểu là NLTH một khả năng thực hiện đƣợc các hoạt động (nhiệm vụ, công việc) trong nghề theo tiêu chuẩn đặt ra đối với từng nhiệm vụ, công việc đó.
NLTH bao gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ đòi hỏi đối với một ngƣời để thực hiện hoạt động có kết quả ở một công việc hay một nghề. NLTH là cái mà ngƣời học cần có để “hành nghề”. Nếu năng lực đƣợc ví nhƣ một tảng băng thì sự thực hiện chính là bề nổi của tảng băng đó. Nhƣ vậy, sự thực hiện của một ngƣời thể hiện năng lực của ngƣời đó.
Do đó trong đào tạo để đánh giá NL của HS chúng ta phải dựa vào sự thực hiện của HS sau khi tốt nghiệp. NLTH còn đƣợc gọi là năng lực chuyên môn nghề nghiệp hay năng lực hành nghề chỉ có ở ngƣời lao động sau khi đƣợc huấn luyện hoặc tự huấn luyện và đƣợc thể hiện qua bộ 3 các tiêu chí: Kiến thức – Kỹ năng – Thái độ. Không có đủ các thành tố trên không bao giờ có năng lực.