Phần mở đầu, Phần nội dung (3 chƣơng, 8 tiết), Phần kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Luan van 13 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP 1. Những khái niệm chủ yếu 1. Khái niệm chất lượng đào tạo Trung cấp chuyên nghiệp Xét theo phƣơng diện Triết học, chất lƣợng là một phạm trù phản ánh tổng thể những tính chất, những thuộc tính cơ bản của sự vật, làm cho sự vật này phân biệt với sự vật khác.
Nói cách khác, chất lƣợng là "cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật", là "cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật khác". Theo từ điển Oxford Pocket Dictinonary, "chất lƣợng là mức hoàn thiện, là đặc trƣng so sánh hay đặc trƣng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản". Với cách hiểu triết học về chất lƣợng nhƣ trên, có thể nhận thấy bất kỳ sự vật hiện tƣợng nào đều có chất lƣợng. Nói rộng hơn, tất cả các thực thể những gì tồn tại khách quan trong hiện thực đều có chất lƣợng để qui định sự hiện hữu của nó và phân biệt nó với các thực thể khác.
Với quan niệm đào tạo theo năng lực hành nghề, chất lƣợng đào tạo đƣợc xác định chủ yếu trong qui trình đào tạo của 3 thành tố: kiến thức, kỹ năng, thái độ với các chuẩn đƣợc quy định cho từng trình độ đào tạo. Qua đó, có thể hiểu Chất lượng đào tạo là mức độ thực hiện các mục tiêu đào tạo đã đề ra, đồng thời phải phù hợp và đáp ứng yêu cầu của người học, của nhà tuyển dụng lao động. Khi đánh giá chất lƣợng giáo dục đào tạo TCCN phải xem xét mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng HS tốt nghiệp TCCN. Sự đáp ứng của các “sản phẩm” đó cũng nhƣ các “dịch vụ” của giáo dục TCCN đối với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong mỗi giai đoạn phát triển KT-XH của đất nƣớc Luan van 14 trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay.
Chất lượng đào tạo Trung cấp chuyên nghiệp là mức độ thực hiện các mục tiêu của hệ Trung cấp chuyên nghiệp, được thể hiện ở các năng lực thực hiện: kiến thức, kỹ năng, thái độ; đồng thời phải phù hợp và đáp ứng yêu cầu người học, đơn vị sử dụng người tốt nghiệp và thích ứng thị trường lao động. Mục tiêu của hệ TCCN là đào tạo HS có trình độ nghề nghiệp chuyên môn trình độ trung cấp theo qui định của Bộ GD&ĐT đó là phải đạt chuẩn kiến thức, kỷ năng, và kỹ xảo cũng nhƣ tay nghề theo yêu cầu chuyên môn, chuyên sâu. Quá trình đào tạo nhằm trang bị cho HS có khả năng lao động để góp phần vào việc duy trì và phát triển cuộc sống trong cộng đồng xã hội, vì vậy đối với các trƣờng đào tạo trình độ TCCN phải xem xét việc nâng cao chất lƣợng đào tạo của mỗi Nhà trƣờng, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của ngƣời học, phải chứng minh đƣợc cho xã hội thấy sản phẩm của mình đào tạo ra đáp ứng tốt theo yêu cầu của ngƣời học cũng nhƣ đơn vị sử dụng lao động; từ đó nâng cao uy tín, thƣơng hiệu của Nhà trƣờng, thu hút đƣợc nguồn tuyển sinh đầu vào cho Nhà trƣờng trong điều kiện khó khăn chung hiện nay của việc tuyển sinh hệ TCCN trong cả nƣớc. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay ở đất nƣớc ta, việc đào tạo trình độ TCCN đòi hỏi phải đạt những tiêu chuẩn về chất lƣợng, ngƣời học khi ra trƣờng phải hội đủ điều kiện về trình độ chuyên môn, tay nghề thích ứng với thị trƣờng lao động, trong đó có việc dƣ luận xã hội hiện nay đang rất quan tâm là đào tạo hệ TCCN không đáp ứng nhu cầu xã hội, học sinh TCCN học ra không tìm đƣợc việc làm, hoặc ra trƣờng làm việc ở các đơn vị sử dụng lao động lại phải đào tạo lại.
Do đó, chất lƣợng đào tạo TCCN đang là một vấn đề chúng ta cần quan tâm và tìm biện pháp giải quyết nhằm nâng cao chất lƣợng đào tạo, đáp ứng yêu cầu xã hội. Khái niệm quản lý đào tạo Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con ngƣời. Quản lý tức là con ngƣời đã nhận thức đƣợc quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt đƣợc thành công. Các Mác đã viết: “Một ngƣời độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trƣởng” [2, tr.
Theo nhà lý luận quản lý ngƣời Pháp Henry Fayol (1841-1912) “Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [21, tr. Theo từ điển tiếng Việt: “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [35, tr. Theo tác giả Nguyễn Văn Bình: “Quản lý là một nghệ thuật đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển phối hợp hƣớng dẫn, chỉ huy hoạt động của những ngƣời khác” [1, tr. Các định nghĩa nêu trên tập trung nhấn mạnh mặt này hay mặt khác, nhƣng điểm chung thống nhất đều coi quản lý là hành động có tổ chức, có mục đích nhằm đạt tới mục tiêu xác định.
Quản lý bao giờ cũng có chủ thể quản lý, khách thể quản lý, quan hệ với nhau bằng những tác động quản lý. Nói một cách tổng quát nhất có thể xem Quản lý là một quá trình tác động có tổ chức, có hƣớng đích gây ảnh hƣởng của chủ thể quản lý đến đối tƣợng quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra. Quản lý bao giờ cũng là tác động theo một hƣớng đích, có một mục tiêu xác định. Quản lý là biểu hiện mối quan hệ giữa bộ phận chủ thể quản lý và đối tƣợng quản lý, là quan hệ ra lệnh phục tùng có tính bắt buộc; Quản lý là sự tác động, mang tính chủ quan, nhƣng phải phù hợp với quy luật khách quan; Quản lý phải xét về mặt công nghệ và sự vận động của thông tin; Quản lý có khả năng thích nghi giữa chủ thể với đối tƣợng quản lý và ngƣợc lại.
Quản lý có các chức năng: Lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra. Trong các chức năng thì chức năng tổ chức là quan trọng nhất. Luan van 16 Quản lý đào tạo là một quá trình hoạt động có mục đích, có kế hoạch vì vậy nó cần đƣợc tổ chức và quản lý để đảm bảo cho quá trình đào tạo vận hành đúng mục tiêu đào tạo đã định. Quản lý hoạt động đào tạo nghĩa là thông qua các chức năng quản lý mà tác động vào các thành tố của quá trình đào tạo.
Quản lý đào tạo thực hiện nhiệm vụ duy trì, ổn định quá trình đào tạo nhằm đảm bảo chất lƣợng, sản phẩm đào tạo đạt đƣợc các chuẩn mực đã xác định và đổi mới, phát triển quá trình đào tạo. Quản lý đào tạo bao gồm các lĩnh vực quản lý: mục tiêu, nội dung chƣơng trình, kế hoạch đào tạo, quy trình tổ chức giảng dạy, học tập nhƣ: chiêu sinh, tổ chức lớp, tổ chức khóa học; thực hiện chƣơng trình giảng dạy, phƣơng pháp giảng dạy; nền nếp dạy học và thi kết thúc khóa, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, đánh giá kết quả học tập, kiểm soát các chuẩn mực đảm bảo chất lƣợng. Chất lƣợng đào tạo quyết định sự tồn vong của cơ sở đào tạo, vì vậy quản lý đào tạo chính là quản lý chất lƣợng. Tổ chức đào tạo một cách hợp lý có ảnh hƣởng lớn đến chất lƣợng của hoạt động đào tạo.
Điểm then chốt của việc tổ chức đào tạo là làm sao hoàn thành đƣợc mọi nhiệm vụ và đạt đƣợc mục tiêu đào tạo đã đề ra. Việc tổ chức đào tạo xuất phát từ nhiệm vụ, mục tiêu đào tạo và căn cứ vào đặc điểm tình hình đội ngũ cán bộ, GV và các điều kiện hoạt động của Nhà trƣờng. Thực chất quản lý tổ chức đào tạo một cách khoa học là tìm ra một phƣơng án tối ƣu của hệ thống các hoạt động đào tạo trên cơ sở giải quyết tổng hợp, đồng bộ các nhiệm vụ, mục tiêu đào tạo, qui trình, chƣơng trình và phƣơng pháp đào tạo. Từ sự phân tích trên có thể hiểu: Quản lý đào tạo là một quá trình tổ chức điều khiển, kiểm tra, đánh giá các hoạt động đào tạo của toàn bộ hệ thống theo mục tiêu, nhiệm vụ, kế hoạch đào tạo đã xác định, nhằm đạt được hiệu quả quản lý giáo dục đào tạo mà Nhà trường.
Khái niệm quản lý chất lượng đào tạo Trường Trung cấp Văn hóa nghệ thuật tỉnh Bạc Liêu Quản lý chất lƣợng là quá trình thiết kế các tiêu chuẩn và duy trì các cơ chế đảm bảo chất lƣợng để sản phẩm đạt đƣợc các tiêu chuẩn xác định. Quản Luan van 17 lý chất lƣợng là thuật ngữ đƣợc sử dụng để miêu tả các thủ pháp hoặc các quy trình đƣợc tiến hành nhằm kiểm tra, đánh giá các sản phẩm có bảo đảm đƣợc các thông số chất lƣợng theo mục đích, yêu cầu đã đƣợc định sẵn hay không. Theo tiêu chuẩn Việt Nam 5818-1994: Quản lý chất lƣợng là tập hợp những hoạt động của chức năng quản lý chung xác định chính sách chất lƣợng, mục đích, trách nhiệm và thực hiện chúng thông qua các biện pháp nhƣ lập kế hoạch chất lƣợng, kiểm soát chất lƣợng, đảm bảo chất lƣợng và cải tiến chất lƣợng trong khuôn khổ hệ thống chất lƣợng. Quản lý chất lƣợng đào tạo bao gồm các hoạt động: kiểm soát chất lƣợng, thanh tra chất lƣợng, đảm bảo chất lƣợng và quản lý chất lƣợng tổng thể.
Quản lý chất lƣợng đào tạo là chủ trƣơng, biện pháp thực hiện việc duy trì, kiểm soát các yếu tố cấu thành của quá trình đào tạo, nhằm bảo đảm thực hiện mục tiêu đào tạo của Nhà trƣờng. Kiểm soát chất lƣợng đào tạo là nói tới hình thức quản lý, kiểm tra các khâu, các yếu tố liên quan đến chất lƣợng và nhằm phát hiện và loại bỏ các sản phẩm cuối cùng không đạt chuẩn qui định. Thanh tra, kiểm tra chất lƣợng giáo dục là việc xem xét, kiểm tra quá trình bảo đảm chất lƣợng giáo dục có đƣợc thực hiện đúng kế hoạch, quy trình, quy định hay không. Thanh tra là một chức năng thiết yếu của hoạt động quản lý nhà nƣớc, là phƣơng thức bảo đảm bằng pháp chế, tăng cƣờng kỷ luật trong quản lý nhà nƣớc về giáo dục.