PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Quá trình toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ và thiết thực đã góp phần tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển, cùng với việc tăng dân số và quá trình đô thị hóa làm cho nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực có trình độ và tay nghề cao ngày càng tăng. Chất lượng lao động mặc dầu đã được cải thiện trong hơn thập kỷ qua nhưng so với các nước tỷ lệ lao động Việt Nam có trình độ chuyên môn cao vẫn là con số khiêm tốn. Sự phát triển của khoa học và công nghệ ứng dụng vào sản xuất đã làm cho thị trường lao động luôn biến đổi.
Tình trạng khó tuyển hay khan hiếm lao động đáp ứng công việc đang trở nên phổ biến. Bên cạnh đó, trong bốn trụ cột của giáo dục: “học để biết, học để làm việc, học để chung sống và học để tự khẳng định mình”, con người cũng cần phát triển năng lực làm việc trong cộng đồng và năng lực đối mặt với những tình huống đa dạng, thường không thể đoán trước được. Vì thế, sự gắn kết giữa giáo dục và định hướng nghề nghiệp, việc làm của giáo dục cần được khuyến khích. Một trong những mục tiêu quan trọng của chiến lược đó là “Đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục”.
Trong đó, đối với giáo dục nghề nghiệp: “Xây dựng và ban hành danh mục ngành nghề đào tạo, đổi mới và chuẩn hoá nội dung chương trình đào tạo theo hướng mềm dẻo, nâng cao kỹ năng thực hành, tự tạo việc làm, thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của công nghệ và thực tế sản xuất,. Thực tế hiện nay, đa số NLĐ đang làm việc tại các DN vừa và nhỏ, nguyên nhân là do số lượng DN vừa và nhỏ chiếm đa số trong tổng số DN đang hoạt động (96,6% năm 2006 theo số liệu của Tổng Cục thống kê). Xu thế chung hiện nay của các DN vừa và nhỏ là đang giảm dần qui mô lao động thông qua việc các DN tiến hành cơ khí hóa, hiện đại hóa sản xuất, áp dụng máy móc hiện đại để giảm thiểu chi phí sản xuất, cải tiến chất lượng sản phẩm, mẫu mã và làm gia tăng giá trị sản phẩm để cạnh tranh và đứng vững trên thị trường. Kết quả, chỉ những LĐ đáp ứng chuyên môn, phù hợp với yêu cầu hiện đại hóa hoặc công nghệ tiên tiến của DN thì sẽ trụ 1 Luan van lại DN.
Số không đáp ứng chuyên môn có khả năng mất việc làm hoặc phải chuyển công việc kém hấp dẫn hơn, tiềm ẩn nguy cơ nghèo đói và tính bền vững của việc làm. [7, 115] Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XI của Đảng đã khẳng định: Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo. Trong đó ghi rõ: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là cán bộ, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn; đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề. Đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhu cầu phát triển của xã hội; có cơ chế và chính sách thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với cơ sở đào tạo….” gắn kết chặt chẽ với phát triển và khoa học, công nghệ.
Thành phố Cần Thơ chính thức trở thành đô thị loại I trực thuộc trung ương kể từ ngày 24/6/2009, thông qua quyết định số 889/QĐ-TTg được thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ký công nhận thành phố Cần Thơ là đô thị loại I trực thuộc trung ương. Năm 2011, dân số Cần Thơ là 1.192 người, trong đó: dân cư thành thị 791.800 người chiếm 65,5% và dân cư nông thôn 408.500 người chiếm 34,5%. [18] Thành phố Cần Thơ cơ bản trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020; là trung tâm kinh tế-xã hội, trung tâm giáo dục-đào tạo và khoa học-công nghệ, trung tâm y tế và văn hóa Vùng ĐBSCL; là đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc tế; là địa bàn trọng điểm giữ vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh của Vùng ĐBSCL và của cả nước; là một cực phát triển, đóng vai trò động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của toàn Vùng ĐBSCL. [13] Thị trường lao động trong các năm vừa qua ở thành phố Cần Thơ có bước phát triển khá nhanh nhưng tự phát là chủ yếu, mặc dầu đã có sự tác động của Nhà nước thông qua việc tổ chức các hội chợ việc làm, điểm hẹn việc làm, ngày hội việc làm, phiên giao dịch việc làm định kỳ từ hoạt động của các trung tâm GTVL tại thành phố Cần Thơ.
Điều này thể hiện rõ trong tỷ lệ người có việc làm thông qua các tác động bên trong tổng số người được giải quyết việc làm hàng năm vẫn còn thấp. Kết quả giải quyết việc làm mới đáp ứng được nhu cầu việc làm cho khoảng 70% số LĐ phát sinh thêm và 80% số LĐ có nhu cầu cấp thiết về việc làm. Số người được giải 2 Luan van quyết việc làm ở các DN, cơ sở sản xuất kinh doanh và dịch vụ chỉ mới chiếm khoảng 65% trong tổng số LĐ được giải quyết về việc làm hàng năm. Tỷ lệ thất nghiệp còn khá cao, số LĐ thất nghiệp đa số là trẻ và có trình độ học vấn thấp, không nghề, tạo nên sức ép lớn về việc làm đối với xã hội.
Nguyên nhân chính là do tình trạng thiếu đồng bộ trong đào tạo và định hướng việc làm cho NLĐ nói chung, sự bất cập giữa cung và cầu LĐ trên thị trường LĐ. Làm thế nào để NLĐ thành phố Cần Thơ có thể đáp ứng đươ ̣c yêu cầ u của thi ̣ trường LĐ trong và ngoài thành phố là điều mà chúng tôi quan tâm nhấ t. Qua thực tế công tác tại đơn vị, người nghiên cứu đã nhận thấy, việc tư vấn việc làm và hỗ trợ đào tạo cho NTV có được các kỹ năng mềm và các kiến thức liên quan về việc làm, học nghề, luật LĐ,. trước khi tham gia thị trường LĐ là rất cần thiết.
Vậy ai sẽ là người cung cấp những thông tin này tại các Trung tâm GTVL? Đó chính là NVTV. Chính vì lẽ đó vi ̣thế của người NVTV rấ t quan tro ̣ng, vì đây chính là những con người bằng kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn của mình truyề n tải và định hướng cho NTV có một nhâ ̣n thức nghề nghiê ̣p rõ ràng , cũng như cung cấp cho NTV mô ̣t số kỹ năng hỗ trợ liên quan đến việc làm cầ n thiế t. Nhưng thực tế , cho đế n nay , cả nước vẫn chưa hề có một chương trình đào tạo chuyên nghiê ̣p cho liñ h vực tư vấn việc làm cho các tư vấn viên tại các trung tâm GTVL. Ngay ta ̣i Trung tâm GTVL Cầ n Thơ , nhân viên trực tiế p tham gia tư vấ n chỉ có thể có kiến thức phục vụ công việc thông qua tự học , trao đổ i chuyên môn với đồ ng nghiê ̣p và tham dự các chương trình đào tạo nội bộ dưới dạng “truyền nghề” được tổ chức không định kỳ tại trung tâm.
Để đào tạo một NVTV đạt đầy đủ các tiêu chí trên thì người nhân viên này đòi hỏi cần phải có các kiến thức và kỹ năng về: việc làm, học nghề, thị trường LĐ, giao tiếp, …. Nói chung người NVTV việc làm phải là người giỏi toàn diện vì phải trả lời được cơ bản và giải đáp được tất cả các vướng mắc của khách hàng nói chung bao gồm NTV, NSDLĐ, thân nhân NTV,… Vì vậy, thực hiện đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực tư vấn việc làm cho nhân viên tư vấn tại các trung tâm Giới thiệu việc làm thành phố 3 Luan van Cần Thơ” là góp phầ n nâng cao năng lực tư vấn việc làm của NVTV, qua đó góp phần nâng chất lượng hoạt động tư vấn việc làm cho NTV trong địa bàn thành phố thông qua việc hỗ trợ hướng dẫn NTV lựa chọn việc làm, nghề học phù hợp hơn với năng lực, sở thích cá nhân, hoàn cảnh gia đình, với nhu cầu của thị trường LĐ nhằm tránh lãng phí về thời gian và kinh phí của bản thân, gia đình và hơn hết là tránh lãng phí về nguồn nhân lực đã qua đào tạo của xã hội. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở khảo sát thực trạng năng lực tư vấn việc làm của NVTV tại các Trung tâm GTVL thành phố Cần Thơ, đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực tư vấn việc làm cho NVTV tại các Trung tâm GTVL thành phố Cần Thơ trong thời gian tới, góp phần vào việc nâng chất lượng nguồn nhân lực tại địa phương, cải thiện tình trạng thiếu đồng bộ giữa cung và cầu trên thị trường LĐ thông qua việc định hướng việc làm cho NLĐ nói chung.
Nhiệm vụ nghiên cứu - Nhiệm vụ 1: Cơ sở lý luận về năng lực tư vấn việc làm. - Nhiệm vụ 2: Khảo sát thực trạng hoạt động tư vấn và năng lực tư vấn việc làm của NVTV tại các Trung tâm GTVL thành phố Cần Thơ. - Nhiệm vụ 3: Đề xuấ t một số giải pháp nâng cao năng lực tư vấn việc làm cho NVTV tại các Trung tâm GTVL thành phố Cần Thơ. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu 3.
Đối tƣợng nghiên cứu Năng lực tư vấn việc làm của NVTV tại các Trung tâm GTVL thành phố Cần Thơ. Khách thể nghiên cứu - Hoạt động tư vấn việc làm của các Trung tâm GTVL thành phố Cần Thơ. - NTV, NSDLĐ, NVTV tại các Trung tâm GTVL và DN hoạt động GTVL tại thành phố Cần Thơ. Giả thuyết nghiên cứu Hoạt động tư vấn việc làm tại các Trung tâm GTVL thành phố Cần Thơ còn mang tính rời rạt, thiếu đồng bộ, do đó năng lực tư vấn việc làm của NVTV chưa được đầu tư và chưa được quan tâm đúng mức.
Nếu thực hiê ̣n các giải pháp do người nghiên cứu đề xuất thì năng lực tư vấn việc làm của NVTV tại thành phố Cần Thơ sẽ được nâng cao. Phạm vi nghiên cứu Đề tài được tiến hành nghiên cứu về thực trạng năng lực tư vấn việc làm cho NVTV tại các Trung tâm GTVL thành phố Cần Thơ và DN hoạt động GTVL qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cho các tư vấn viên đang tham gia công tác tại các đơn vị này trên địa bàn thành phố Cần Thơ.