Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển nhân lực KH&CN thực hiện giám định công nghệ. Nhận diện rào cản trong phát triển nhân lực KH&CN thực hiện giám định công nghệ tại công ty VINACONTROL HÀ NỘI. Đề xuất giải pháp tháo gỡ rào cản trong phát triển nhân lực KH&CN thực hiện giám định công nghệ tại công ty VINACONTROL HÀ NỘI.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC KH&CN THỰC HIỆN GIÁM ĐỊNH CÔNG NGHỆ 1.1 Một số khái niệm 1. Nguồn nhân lực Thuâ ̣t ngữ nguồ n nhân lực (hurman resourses) xuấ t hiê ̣n vào t hâ ̣p niên 80 của thế kỷ XX khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý , sử dụng con người trong lao động. Nế u như trước đây phương thức quản tri ̣nhân viên (personnel management ) với các đă ̣c trưng coi nhân viên là lực lươ ̣n g thừa hành, phụ thuộc, cầ n khai thác tố i đa sức lao đô ̣ng của ho ̣ với chi phí tố i thiể u thì từ những năm 80 đến nay với phương thức mới , quản lý nguồn nhân lực (hurman resourses management ) với tiń h chấ t mề m dẻo hơn , linh hoa ̣t hơn, tạo điều kiện tốt hơn để người lao động có thể phát huy ở mức cao nhất các khả năng tiềm tàng , vố n có của ho ̣ thông qua tić h lũy tự nhiên trong quá trình lao đô ̣ng phát triể n. Có thể nói, sự xuấ t hiê ̣n của thuâ ̣t ngữ "nguồ n nhân lực" là một trong những biểu hiện cụ thể cho sự thắng thế của phương thức quản lý mới đố i với phương thức quản lý cũ trong viê ̣c sử du ̣ng nguồ n lực con ngươ [2].
̀ i "Nguồn lực con người" hay "nguồn nhân lực”, là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển: Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau. Nguồ n nhân lực là nguồ n lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau ) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế – xã hô ̣i của quố c gia, khu vực , thế giới. Như vậy, nguồ n nhân lực là nguồ n lực với các yế u tố vâ ̣t chấ t , tinh thầ n ta ̣o nên năng lực , sức ma ̣nh phu ̣c vu ̣ cho sự phát triể n nói chung của các tổ chức. 13 z Trong báo cáo của Liên hơ ̣p quố c đánh giá về nhữ ng tác đô ̣ng của toàn cầ u hoá đố i với nguồ n nhân lực đã đưa ra đinh ̣ nghiã nguồ n nhân lực là trình đô ̣ lành nghề , kiế n thức và năng lực thực có thực tế cùng với những năng lực tồ n ta ̣i dưới da ̣ng tiề m năng của con người.
Theo David Begg: “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai”[1]. Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người thuộc các nhóm đó, nhờ tính thống nhất mà nguồn lực con người biến thành nguồn vốn con người đáp ứng yêu cầu phát triển. Nguồn nhân lực, theo cách tiếp cận mới, có nội hàm rộng bao gồm các yếu tố cấu thành về số lượng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hoá.
Như vậy, các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội. Khái niệm "nguồn nhân lực" (Human Resoures) được hiểu như khái niệm "nguồn lực con người". Khi được sử dụng như một công cụ điều hành, thực thi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có tham gia lao động - hay còn được gọi là nguồn lao động. Bộ phận của nguồn lao động gồm toàn bộ những người từ độ tuổi lao động trở lên có khả năng và nhu cầu lao động được gọi là lực lượng lao động.
14 z Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Vì vậy, có thể định nghĩa: Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội. Nhân lực KH&CN (scientific and technical personnel) Theo định nghĩa của UNESCO (UNESCO manual for Statistics on scientific and technogical activities.
Trg 34), nhân lực KH&CN (NLKHCN) có thể xác định là tổng số người tham gia trực tiếp vào hoạt động KH&CN trong một cơ quan hoặc một đơn vị và được trả công cho việc làm của mình. Nhóm này bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phụ trợ. - Nhà khoa học: Những người làm việc có khả năng sử dụng hoặc sáng tạo kiến thức và kỹ năng (engineering) và các nguyên lý công nghệ. Tức là những người được đào tạo về khoa học hoặc công nghệ tham gia các chức nghiệp trong hoạt động KH&CN, những nhà quản trị cao cấp và những người chỉ đạo các hoạt động KH&CN.
Trong trường hợp các hoạt động NC&TK, “nhà khoa học” đồng nghĩa với nhà nghiên cứu và trợ lý nghiên cứu tham gia cả trong khoa học tự nhiên lẫn trong khoa học xã hội và nhân văn. 15 z - Kỹ thuật viên: là những người làm nhiệm vụ kỹ thuật viên trong hoạt động KH&CN, đã được đào tạo về kỹ thuật và dạy nghề trong các lĩnh vực kiến thức hoặc công nghệ, kể cả theo hình thức vừa học vừa làm. - Nhân lực phụ trợ: là những người có hoạt động kết hợp trực tiếp với kết quả họat động KH&CN, thí dụ: thư ký, cán bộ quản lý, công nhân có tay nghề cao hoặc thấp trong các nghề nghiệp khác nhau và mọi nhân lực hỗ trợ khác. - Nhân lực cho hoạt động NC&TK.
“Nhân lực cho hoạt động NC&TK cần phải kể tất cả những người được sử dụng trực tiếp cho NC&TK cũng như những người cung cấp các dịch vụ trực tiếp như các giám đốc các dự án NC&TK, các nhà quản trị và đội ngũ thư ký” (Trần Chí Đức. Về đội ngũ cán bộ khoa học của Việt Nam. Hội thảo Quốc gia về Chính sách Khoa học và kỹ thuật 20-21/11/1996). Những người cung cấp các dịch vụ gián tiếp như đội ngũ bảo vệ, nhà ăn cần được loại trừ, mặc dù rằng tiền lương và thù lao của họ vẫn được tính trong chi phí thường xuyên khi thống kê về chi tiêu tài chính.
Đối với đội ngũ cán bộ quản lý, rất khó xác định họ tham gia trực tiếp vào NC&TK ở mức độ nào. Các sinh viên sau đại học cũng vậy, họ chỉ tham gia một phần trong những hoạt động NC&TK. Việc tính số người tham gia vào hoạt động NC&TK được tiến hành theo 3 nội dung sau: Xác định loại nào có tham gia vào NC&TK; Xác định số lượng; Xác định số hoạt động NC&TK của họ theo thời gian đầy đủ (full-time equivalent, FTE); tính theo người-năm. Xác định số lượng các loại nhân lực cho NC&TK ở Việt Nam là một việc khó vì hệ thống thống kê KH&CN chưa được thiết lập.
Tuy nhiên ta có thể quy ước dựa theo gần như quy định của OECD khi lấy đó là nhân lực 16 z trong các tổ chức NC&TK độc lập, các trường đại học, có quan hệ (trực tiếp hay gián tiếp) với hoạt động NC&TK, nhân lực trong các tổ chức NC&TK và các bộ phận làm công việc đổi mới công nghệ/ sản phẩm của doanh nghiệp. Như vậy, có thể thấy rằng các loại nhân lực “nhà khoa học”, “kỹ thuật viên” được xác định bằng cả trình độ lẫn chức vụ (occupation), trong khi các nhân lực phụ trợ được xem xét chỉ bởi tiêu chuẩn chức vụ. Định nghĩa nhân lực KH&CN của UNESCO như vậy là khá rộng và bao quát một lực lượng lao dộng khá đông. Định nghĩa trên đây về nhân lực cho NC&TK hẹp hơn, nó được xem xét chủ yếu trên phương diện chức nghiệp.
Tương tự như vậy đối nhân lực KH&CN thực hiện giám định công nghệ được xem như là nhân lực có trình độ KH&CN và làm chức nghiệp giám định công nghệ và được pháp luật hiện hành ở nước ta gọi là giám định viên công nghệ. Chức nghiệp này sẽ được xem xét dưới đây. Quản lý “Quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt quan trọng của con người. Quản lý chứa đựng nội dung rộng lớn, đa dạng phức tạp và luôn vận động, biến đổi, phát triển.
Vì vậy, khi nhận thức về quản lý, có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau” [1].