mở đầu, trong suốt quá trình phát triển và đến khi đóng lại. Chính vì thế, trong mọi thời điểm, những đóng góp của các chuyên gia kế toán có giá trị rất lớn.4 Nhu cầu của doanh nghiệp đối với ngành kế toán hiện nay Việt Nam là nước đang có nền kinh tế phát triển nhanh, đặc biệt lại đang chú trọng đến việc hội nhập, giao thương, mở rộng với nước ngoài. Vị thế của nghề kế toán ngày càng được củng cố. Các doanh nghiệp chú trọng hơn đến bộ phận kế toán và luôn tìm những ứng viên xuất sắc để hoàn thiện bộ máy và nâng cao hiệu quả công việc, 11 Luan van Dựa trên số liệu thống kê năm 2017, Việt Nam có khoảng hơn 500.000 doanh nghiệp lớn nhỏ.
Mỗi doanh nghiệp trung bình cần tới 5-6 kế toán để duy trì hoạt động với thu nhập từ 7-9 triệu đồng. Ở thời điểm hiện tại, số lượng doanh nghiệp chắc chắn đã lớn hơn rất nhiều khi mà startup hiện tại đang trở thành trào lưu và hàng năm số doanh nghiệp mới liên tục mọc lên như nấm, điều đó đồng nghĩa với nhu cầu với ngành kế toán luôn ở mức cao. Đây sẽ là một thuận lợi cho những sinh viên mới ra trường chưa có nhiều kinh nghiệm có cơ hội làm việc, cọ xát và phát triển bản thân.5 Cơ hội đối với ngành kế toán hiện nay Được đánh giá là ngành hot, dễ hiểu khi mỗi năm lại có hàng chục ngàn sinh viên thi vào ngành này ở các trường đại học. Số lượng cử nhân kế toán tốt nghiệp hàng năm cũng rất lớn.
Chất lượng hơn số lượng chính là quy chuẩn chung của bất cứ ngành nghề nào. Tuy nhiên vì chạy theo nhu cầu trước mắt, nhiều cơ sở đào tạo lại đi theo quy chuẩn ngược lại. Chỉ chú trọng đến số lượng và lợi nhuận mà không nâng cao trình độ đào tạo. Số lượng sinh viên ngành kế toán mỗi năm đều không ngừng tăng cao nhưng hệ thống đào tạo lại không chịu đổi mới.
Kết quả là những cử nhân với cái đầu nặng kiến thức mà không có kinh nghiệm thực tế. Việc cung lớn hơn cầu không phải là vấn đề của chỉ riêng ngành kế toán mà bất kì ngành nghề nào trong xã hội cũng vậy. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là cơ hội của bạn bị mất đi mà đòi hỏi bạn phải liên tục học hỏi trau dồi nâng cao trình độ của bản thân, nắm vững các kiến thức và kỹ năng cần thiết. Khi bạn có năng lực, công việc sẽ luôn chờ đón bạn.
Người ta thường nói nghề kế toán khô khan, rạch ròi khi phải làm việc với những con số. Nhưng chỉ cần có đam mê với công việc, chắc chắn các kế toán viên sẽ cảm thấy hạnh phúc khi có thể sắp xếp những con số vào đúng vị trí. Ngoài ra sự đam mê cũng thôi thúc bạn không ngừng học hỏi, trau dồi kỹ năng để trở thành kế toán giỏi. Hiện nay theo đánh giá chung từ những kết quả tổng hợp, mức lương của kế toán mới ra trường dao động từ khoảng 3.
Kế toán có kinh 12 Luan van nghiệm từ 2 năm trở lên thì mức lương khoảng từ 6. Còn đối với kế toán trưởng thì mức lương hơn 10. Tất nhiên mức lương này còn tùy thuộc vào năng lực làm việc, yêu cầu và tính chất công việc của bạn. Bạn làm tốt chắc chắn sẽ được thăng tiến, phát triển hơn.
Bên cạnh đó, với sự bùng nổ của thời đại công nghệ, những sự thay đổi trong phương pháp làm việc cũng gây ra những ảnh hưởng nhất định. Đặc biệt là sự ra đời của các loại hình dịch vụ kế toán đã tạo nên một xu hướng làm kế toán mới.6 Thách thức của nghề kế toán hiện nay Ngành nghề nào cũng có những khó khăn và thách thức, đối với nghề kế toán cũng vậy. Hiện nay với thực tế là nguồn cung lớn hơn cầu dẫn đến mức độ cạnh tranh cao, để có được vị trí trong các doanh nghiệp bạn phải nắm chắc những kỹ năng cơ bản ngoài ra phải thông thạo ngoại ngữ và có các kỹ năng mềm trong xử lý tình huống. Nhưng có được một vị trí không có nghĩa là bạn đã an toàn.
Các công ty hiện nay đều có tham vọng phát triển ngày một lớn mạnh nên họ cực kỳ kỹ lưỡng khi sử dụng nhân sự. Hàng năm các công ty đều thực hiện cải tổ nhân sự và sẵn sàng thay thế những nhân viên cũ nếu bạn không đáp ứng được các yêu cầu công việc trong khi có nhiều ứng viên tiềm năng khác đang muốn ứng tuyển vào vị trí đó. Vì thế công việc kế toán là công việc luôn luôn phải học hỏi và trau dồi bản thân. Bên cạnh đó áp lực trong ngành này là điều rõ ràng.
Trái với nhận định chủ quan về kế toán là nghề việc nhẹ - lương cao thì trên thực tế, với việc suốt ngày làm việc với những con số lớn, hàng xấp hồ sơ, tài liệu về thống kê, giải trình, chỉ cần một sai sót nhỏ trong công việc cũng đủ để gây ra những hậu quả khôn lường. Vì vậy áp lực về sự chính xác và thời gian cũng là thách thức lớn, nếu bạn không phải là chọn công việc kế toán vì sở thích và đam mê thì nó sẽ khá khó khăn cho bạn. Và mức lương đối với sinh viên mới ra trường trong ngành này cũng không hề lý tưởng như nhiều người vẫn nghĩ, chỉ dao động ở mức từ 3 - 5 triệu thôi. Nếu với mức sống ở một thành phố như Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh thì mức lương này quả là một thách thức lớn.7 Lý thuyết nền tảng Lý thuyết kinh tế cổ điển về lựa chọn việc làm của (Knight,1933 và Schumpeter,1934) Các yếu tố ảnh hưởng lựa chọn việc làm dựa trên mức độ thoả dụng về kinh tế của người lao động.
Lý thuyết của Knight (1933) cho rằng người lao động sẽ lựa chọn công việc cho bản thân dựa vào kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm phù hợp với công việc mà họ đang làm. Lúc này, người lao động quan tâm đến sự thuận lợi của loại hình công việc này như: tính linh hoạt về thời gian làm việc, có khả năng tự chủ động, sáng tạo, tự chủ trong các tình huống. Theo Schumpeter (1934) những khía cạnh khác của những người lựa chọn làm chủ. Đó là do những người này có những hạn chế về ngoại hình, thiếu các mối quan hệ hay không tiếp cận được cơ hội việc làm như: không biết chữ, chưa qua đào tạo nghề, không có bằng cấp, tiền lương thấp thiếu chế độ đãi ngộ, thất nghiệp.
Lý thuyết của Light (1979) và Alleman(1998) Light (1979) và Alleman (1998) phân chia người lao động thành hai nhóm. Nhóm có chi phí cơ hội thấp và nhóm có chi phí cơ hội cao đã ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của người lao động. Trong thị trường lao động không phải lúc nào người lao động cũng có đầy đủ những lựa chọn để tối đa hóa thỏa dụngcủa mình. Light và Alleman nêu ra các nhân tố tạo nên chi phí cơ hội này thành 2 nhóm: Nhóm nhân tố bất lợi tạo nên chi phí cơ hội thấp làm cho người lao động có khuynh hướng lựa chọn làm chủ bao gồm nhân tố bất lợi trên thị trường lao động như ngh o, thất nghiệp, bị phân biệt đối xử, đô thị hóa quá mức, mức thu nhập trên thị trường thấp, là người nhập cư, là phụ nữ hoặc thanh niên còn trẻ chưa có kinh nghiệm.
Nhân tố bất lợi về vốn con người như: trình độ học vấn và chuyên môn thấp, không có kinh nghiệm làm việc, chưa qua đào tạo. Các yếu tố mang tính chất lợi thế tạo nên chi phí cơ hội cao khi bản thân người lao động có trình độ học vấn và tay nghề cao.Trình độ quản lý đã được r n luyện tích luỹ qua thời gian, có nhiều kinh nghiệm trong công việc và nghề truyền thống gia đình để lại. Với các mối quan hệ sẵn có sẽ lựa chọn làm chủ khi họ nhận 14 Luan van thấy cơ hội từ thu nhập kỳ vọng và lợi ích trong tương lai nhiều hơn cho bản thân. Các yếu tố mang tính chất lợi thế tạo nên chi phí cơ hội cao được sử dụng trong nghiên cứu này được đại diện bởi trình độ học vấn.
Bên cạnh đó các yếu tố mang tính chất bất lợi tạo nên chi phí cơ hội thấp đại diện bởi biến di cư và giới tính. Nghiên cứu khác Người lao động làm việc trong khu vực chính thức thường có hợp đồng lao động rõ ràng với chủ thể sử dụng lao động được quy định trong luật lao động tại quốc gia đó. Trong khi đó khu vực phi chính thức bao gồm các đơn vị không đăng ký cũng như không thuộc phạm vi điều chỉnhcủa luật lao động và thường bị chi phối bởi những người hoặc các doanh nghiệp sử dụng lao động có quy mô nhỏ. Theo đó sự tồn tại đồng thời của khu vực chính thức và khu vực phi chính thức là một kết quả của phân khúc thị trường lao động khi khu vực phi chính thức được xem là sự thay thế cho người lao động muốn làm việc trong khu vực chính thức nhưng không thể tìm được việc làm ở đó.
Kết quả là khu vực phi chính thức dư thừa cung lao động và tiền lương thấp hơn so với khu vực phi chính thức. Điều này được giải thích bằng lý thuyết vốn con người của Becker (1993) trong đó chỉ ra rằng khác biệt về thu nhập xảy ra do có sự khác biệt về năng suất lao động giữa những người có học vấn khác nhau và lựa chọn việc làm ở hai khu vực. Dựa trên giả định rằng sự lựa chọn này nhằm tối đa hóa độ thỏa dụng (maximumutility) mặc dù tồn tại khác biệt về thu nhập giữa hai khu vực. Đó là khu vực chính thức và khu vực phi chính thức Khi người lao động quyết định tham gia thị trường lao động thì những đặc điểm cá nhân cũng như các mối quan hệ xã hội có ảnh hưởng nhất định đến sự lựa chọn của họ.3 Các công trình nghiên cứu liên quan 1.1 Nghiên cứu trong nước Theo tác giả Nguyễn Thị Thanh Thắm (2018), Kế toán, kiểm toán và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, Tạp chí Tài chính: Bài viết trình bày một số vấn đề liên quan đến xu hướng, môi trường làm việc trong lĩnh vực kế toán – kiểm toán trong kỷ nguyên số, hướng đi nhằm phát triển tính cạnh tranh của các cá nhân, tổ chức hoạt 15 Luan van động trong lĩnh vực kế toán – kiểm toán.