Mở đầu Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả và thảo luận. Chương 5: Kết luận và kiến nghị.7 Đóng góp của nghiên cứu.
Đóng góp về mặt lý luận Nghiên cứu sẽ bổ sung thêm mô hình lý thuyết về các nhân tố có tồn tại khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của KTV giữa Kiểm toán viên và người sử dụng BCTC được kiểm toán, làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu có liên quan. Đóng góp về mặt thực tiễn Trên cơ sở kiểm định mô hình về các nhân tố có tồn tại khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của KTV giữa Kiểm toán viên và người sử dụng BCTC được kiểm toán làm cơ sở khoa học cho việc đưa ra các giải pháp nhằm thu hẹp khoảng các mong đợi này. Giả định qua kết quả của nghiên cứu, các giả thiết trong mô hình nghiên cứu đều đúng, ngoài ra qua kết qủa phân tích cũng có tồn tại khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của KTV giữa Kiểm toán viên và người sử dụng BCTC được kiểm toán giữa những người có kiến thức kế toán và không có kiến thức kế toán, giữa những người thời gian kinh nghiệm về kế toán khác nhau. Nghiên cứu đề xuất một số giải c 6 pháp sau nhằm thu hẹp khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của KTV giữa Kiểm toán viên và người sử dụng BCTC được kiểm toán như sau: Bộ Tài chính sớm hoàn thiện và ban hành hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam trong đó bao gồm các chuẩn mực liên quan đến trách nhiệm của KTV) mới hội nhập với hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế.
Chính phủ cần tiếp tục bổ sung và hoàn thiện luật kiểm toán độc lập, các nghị định hướng dẫn luật, Bộ Tài chính cần sớm ban hành thông tư hướng dẫn các nghị định này nhằm quy định cụ thể hơn nữa trách nhiệm của KTV, các hình thực xử phạt đối với KTV trong trường hợp họ bị vi phạm. UBCKNN cũng tiếp tục bổ sung và hoàn thiện các quy định liên quan đến xử phạt KTV liên quan đến vi phạm trách nhiệm của mình trong kiểm toán BCTC. Bộ Tài chính tiếp tục tăng cường đào tạo , tập huấn cho đội ngũ KTV trong việc nâng cao tách nhiệm của mình trong khi thực hiện công việc kiểm toán. Ngoài ra Bộ tài chính cũng cần có những chương trình đào tạo cho các đối tượng sử dụng BCTC được kiểm toán những kiến thức cơ bản về kiểm toán, kiến thức cơ bản đọc và hiểu được BCTC và BCKT.
Các Công ty kiểm toán cần thực hiện kỹ việc đánh giá, lựa chọn khách hàng trước khi ký kết hợp đồng kiểm toán, quy định rõ trách nhiệm của công ty kiểm toán đối với khách hàng trong hợp đồng. Người sử dụng BCTC được kiểm toán cần ý thức được việc tự trang bị cho mình những kiến thức cần thiết sử dụng trong việc đọc, phân tích BCTC và BCKT phục vụ trong việc quyết định đầu tư cũng như việc đánh giá trách nhiệm kiểm toán viên trong kiểm toán BCTC. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 sẽ tập trung trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến kiểm toán và trách nhiệm nghề nghiệp của kiểm toán viên, các quy định về trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên ở một số nước trên thế giới và tại Việt Nam. Chương 2 cũng đề cập đến khái niệm về khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của kiểm toán viên và các nghiên cứu trước đây về khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của kiểm toán viên.
Cuối cùng, đề xuất về mô hình nghiên cứu cho nghiên cứu tại Việt Nam.1 Định nghĩa kiểm toán Về phương diện lịch sử, từ “kiểm toán” có nguồn gốc từ chữ Latin “audire” có nghĩa là “nghe” (Mahdi Salehi & Mahadevaswamy, 2008). Thuật ngữ đó diễn tả cách ứng xử của kiểm toán trong thời cổ đại. Tuy nhiên, qua một thời gian, cách ứng xử của kiểm toán đã trải qua nhiểu thay đổi lớn. Theo (Adeniji, 2010); (Semiu & Johnson, 2011), kiểm toán là: “ Sự đánh giá độc lập và diễn đạt ý kiến về sự tuân thủ những quy định của báo cáo tài chính của một tổ chức bởi một kiểm toán viên được chỉ định”.
Cùng quan điểm đó, theo (Semiu Babatunde & John Kolawole Olookere, 2011), (Mahdi Salehi & Mahadevaswamy, 2008) cho rằng kiểm toán báo cáo tài chính là kiểm toán viên trình bày ý kiến của mình là liệu báo cáo tài chính được lập có tuân thủ theo khuôn mẫu đã quy định về báo cáo tài chính không. Đồng thời, kiểm toán viên cũng trình bày ý kiến của mình về sự chính xác, độ tin cậy, không gian lận trong trình bày thông tin trên báo cáo tài chính của một tổ chức. Ý kiến này của kiểm toán hữu ích cho các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài. Như vậy, mục tiêu chính của kiểm toán là đưa ra ý kiến về sự trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính.2 Trách nhiệm nghề nghiệp của kiểm toán viên Trước năm 1840: Trong giai đoạn này, kiểm toán viên bắt buộc phải kiểm tra tất cả các giao dịch của đơn vị và trách nhiệm chủ yếu của kiểm toán viên là xác minh tính trung thực của người chịu trách nhiệm tài chính.
c 8 Giai đoạn từ những năm 1840-1920: (Porter & et al , 2005) phân tích, trong giai đoạn này trách nhiệm chính của kiểm toán viên chỉ là xác nhận tình trạng tài chính, khả năng thanh toán và thu nhập có thật của đơn vị. Kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện và ngăn chặn gian lận. Ngược lại, những người sử dụng báo cáo kiểm toán đòi hỏi kiểm toán viên phải có trách nhiệm ngăn chặn và phát hiện gian lận khi hàng loạt các vụ phá sản của nhiều công ty xảy ra trong những năm 1860 đến 1870. Giai đoạn từ 1920- 1960: Quan điểm khác nhau về trách nhiệm liên quan đến ngăn chặn và phát hiện gian lận giữa kiểm toán viên và xã hội vẫn tiếp tục tiếp diễn cho đến giữa thế kỷ 20.
Tuy nhiên, sau vụ gian lận của McKesson & Robbin vào năm 1938, xã hội mới đồng ý là trách nhiệm ngăn chặn và phát hiện gian lận không phải là trách nhiệm chính của kiểm toán viên. Sự phát triển nhanh chóng của thị trường vốn đã làm thay đổi quan điểm về trách nhiệm của kiểm toán viên. Theo (Porter & et al, 2005) trong giai đoạn này, kiểm toán viên được yêu cầu cung cấp ý kiến xác minh độ tin cậy của báo cáo tài chính cho các cổ đông của công ty. Vì vậy, trách nhiệm chính của kiểm toán viên là đánh giá sự trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính hơn là ngăn chặn và phát hiện gian lận và sai sót.
Sau đó, cho đến những năm 1940, nhiều tranh cãi về trách nhiệm của kiểm toán viên vẫn tiếp diễn. Vấn đề tranh cãi chủ yếu là liệu một quy trình kiểm toán có phải bắt buộc thiết lập để phát hiện và ngăn chặn gian lận hay không và cho rằng kiểm toán viên không yêu cầu phải phán đoán xem gian lận có xuất hiện hay không khi thực hiện kiểm toán. Nếu kiểm toán viên tuân thủ đầy đủ yêu cầu của GAAP trong thực hiện kiểm toán nhưng vẫn không phát hiện được gian lận thì cuộc kiểm toán vẫn xem là thành công mặc dù báo cáo tài chính vẫn còn tồn tại sai sót. Trong những năm 1970, nhiều vụ gian lận liên quan đến gian lận tại các công ty như Westec, Yale Express, Bar Chris; Beverly Hills Bancorp…đã làm gia tăng nghi vấn về trách nhiệm phát hiện gian lận của kiểm toán viên.
Vụ việc này đã gây áp lực mạnh đối với kiểm toán viên về nghĩa vụ phải phát hiện gian lận. Cho nên từ c 9 những năm này, nhiều nghiên cứu xem xét việc thiết lập định nghĩa về trách nhiệm của kiểm toán viên phù hợp hơn bắt đầu gia tăng. Theo nghiên cứu của (Young, 1997), ông ta cho rằng trong thời điểm này kiểm toán viên không phải chịu trách nhiệm về phát hiện gian lận, có nghĩa là đẩy toàn bộ gánh nặng ngăn chặn gian lận cho kế toán viên và yêu cầu nhanh chóng xây dựng chuẩn mực kiểm toán. Trong bài nghiên cứu của mình, ông ta đã viết “Chúng tôi tin rằng ở công ty cổ phần đại chúng niêm yết, kế toán hoàn toàn có thể trở thành chuyên gia phát hiện về khai khống tài sản và lợi nhuận cho dù có phải là gian lận hay không”.
Nhiều chuyên gia cũng đồng ý với ý kiến này và củng cố và phát triển quan điểm về trách nhiệm của kiểm toán viên khi kiểm toán báo cáo tài chính như những năm 1930. Họ nhất trí là trách nhiệm của kiểm toán viên là xác nhận tính đáng tin cậy của báo cáo tài chính và đảm bảo rằng báo cáo tài chính trình bày trung thực hợp lý Trong thời gian này, các kiểm toán viên vẫn cho rằng họ có thể gia tăng tính đáng tin cậy của báo cáo tài chính mà không cần tìm kiếm và phát hiện gian lận khi thực hiện cuộc kiểm toán. Trái lại, công chúng không đồng ý với quan điểm đó và mong đợi gian lận trọng yếu sẽ được phát hiện trong cuộc kiểm toán. Khảo sát của công ty Arthur Andersen năm 1974 chỉ ra rằng hơn 66% nhà đầu tư công chúng tin rằng chức năng quan trọng nhất của cuộc kiểm toán là phát hiện gian lận.
Trong một nghiên cứu của mình được tiến hành ở Mỹ đã đánh giá việc mở rộng trách nhiệm của kiểm toán viên khi cho rằng kiểm toán có trách nhiệm phát hiện sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính và các hành vi bất hợp pháp. Họ đã tiến hành kiểm định và kết luận có sự khác biệt đáng kể về nhận thức giữa người sử dụng báo cáo tài chính và kiểm toán viên về trách nhiệm phát hiện và công bố gian lận cùng các hành vi không hợp pháp của doanh nghiệp. Như vậy, kiểm toán viên và công chúng có quan điểm khác nhau về trách nhiệm của kiểm toán viên khi thực hiện cuộc kiểm toán. Nguyên nhân là do công chúng có sự giới hạn về kiến thức kiểm toán nên họ đã không hiểu được vai trò và trách nhiệm của kiểm toán một cách hợp lý và nhấn mạnh là công chúng cần phải c 10 có sự hiểu biết nhất định về kiểm toán.
Để giải quyết sự khác biệt về quan điểm giữa kiểm toán viên và công chúng, các chuyên gia đã nỗ lực xem xét lại đầy đủ hơn về vai trò và trách nhiệm của kiểm toán viên khi thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính nhằm thuyết phục công chúng chấp nhận giá trị của cuộc kiểm toán.