Chương 1: Giới thiệu tổng quan các nghiên cứu trước. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
7 Chương 5: Kiến nghị và kết luận. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC Chương này sẽ trình bày tổng quan bức tranh tổng thể về khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán cũng như lý thuyết liên quan đến cảm nhận thông điệp từ BCKT. Sau đó tác giả sẽ tóm tắt các nghiên cứu có liên quan đến đề tài trong và ngoài nước. Vì hạn chế về thời gian và kiến thức, tác giả sẽ trình bày một cách tương đối các nghiên cứu gần nhất và từ đó kết luận chung về vấn đề cần nghiên cứu.
Tổng quan nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán và sự khác biệt cảm nhận thông điệp từ BCKT. Tổng quát các nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán BCKT cung cấp cho người sử dụng những thông tin đáng tin cậy và là công cụ hỗ trợ cho việc ra quyết định của nhà đầu tư. Một BCKT chuẩn và hoạt động kiểm toán chuyên nghiệp rõ ràng có ý nghĩa quan trọng để đảm bảo rằng không có bất kỳ khoảng cách kỳ vọng nào được tạo ra bởi KTV và những gì được hiểu của người sử dụng BCKT, vì khoảng cách này có thể làm giảm đi sự tin cậy vào hoạt động kiểm toán, dẫn tới các quyết định sai lầm hoặc gây ra những vụ kiện tụng không đáng có. Các nghiên cứu ban đầu tập trung vào việc tìm hiểu và xây dựng khái niệm khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán điển hình như: Liggio (1974); Cohen (1978);Guy và Sullivan (1988); AICPA (1993); Monroe & Woodliff (1993); Porter và cộng sự (1993, 2012).
Theo Liggio (1974) nghiên cứu được coi là khái niệm đầu tiên về “khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán”, thể hiện sự khác biệt giữa hai mức độ kỳ vọng về hiệu quả công việc kiểm toán giữa KTV và người sử dụng BCTC. Ủy ban Cohen (1978) đưa ra khái niệm là sự kỳ vọng hoặc yêu cầu của công chúng về những gì KTV có thể hoàn thành một cách hợp lý và phù hợp.Guy và Sullivan (1988) cho rằng khoảng cách kỳ vọng là sự khác biệt những gì công chúng và người sử dụng BCTC tin rằng kế toán và KTV phải chịu trách nhiệm những gì mà bản thân họ phải chịu trách nhiệm.Hiệp hội Kế toán viên công chứng Mỹ - AICPA (1993) đề cập đến khái niệm dựa trên sự khác biệt những gì công chúng và người sử dụng BCTC tin vào trách nhiệm của KTV và bản thân KTV tin vào trách nhiệm của 9 họ.Porter (1993) định nghĩa khoảng cách kỳ vọng kiểm toán là khoảng cách giữa sự kỳ vọng của xã hội về KTV và hoạt động thực tế của KTV.Monroe và Woodliff (1994) cho rằng khái niệm liên quan đến niềm tin giữa KTV và công chúng về nhiệm vụ, trách nhiệm của KTV đối với gian lận, sai sót và những thông tin trong BCTC. Các nghiên cứu chưa có sự thống nhất về khái niệm của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán. Tuy nhiên các nghiên cứu đều thống nhất nhận định rằng khoảng cách kỳ vọng có tồn tại trong lĩnh vực kiểm toán, thể hiện ở sự khác biệt giữa kỳ vọng của công chúng đối với nghề nghiệp kiểm toán và kết quả công việc mà KTV thực hiện.
Khoảng cách này tồn tại liên quan đến rất nhiều vấn đề như vai trò và trách nhiệm của KTV, mục tiêu, chức năng kiểm toán, mức độ tin cậy, tính hữu ích của BCKT và thông điệp truyền tải trên BCKT. Từ việc xây dựng khái niệm khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán các nghiên cứu cũng có chung mục tiêu cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định tồn tại khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán. Lee (1970), Humphrey và cộng sự (1993) khẳng định khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán có liên quan đến vai trò, chức năng và mục tiêu kiểm toán tại Anh. Cho đến hiện tại khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán đã được rất nhiều nghiên cứu tập trung thực hiện trên nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm cả nước phát triển và đang phát triển.
Các nghiên cứu sau này có sự kế thừa của những nghiên cứu trước cũng như có sự phát hiện các nhân tố mới ảnh hưởng đến khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán. Các nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc bổ sung khung lý thuyết về khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán cũng như có ý nghĩa thực tiễn trong hoạt động kiểm toán. Tổng quát các nghiên cứu về sự khác biệt cảm nhận thông điệp từ BCKT Các nghiên cứu liên quan đến sự khác biệt cảm nhận thông điệp từ BCKT chủ yếu được các tác giả gọi chung là khoảng cách thông tin và được coi là một thành phần của khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán. Thực tế cung cấp bằng chứng chứng minh có sự tồn tại khoảng cách thông tin và điều này được coi là một trong những nguyên nhân tạo ra khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán (AICPA/IAASB 2007).
Khoảng cách thông tin được hiểu như là sự khác biệt về cảm nhận thông điệp được truyền tải trên BCKT giữa KTV và người sử dụng BCKT. Cùng với những nghiên cứu tập trung vào việc xây dựng khái niệm, chứng minh sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán, các nghiên cứu đầu tiên về khoảng cách thông tin trên BCKT cũng đã hình thành nhiều trên thế giới. Tuy chưa có định nghĩa rõ ràng về khoảng cách thông tin nhưng có thể hiểu các nghiên cứu đều nhận thấy sự tồn tại khác biệt về suy nghĩ và cảm nhận của các nhóm đối tượng đối với những thông tin trên BCKT. Có thể kể đến nghiên cứu củaAICPA chỉ định Ủy ban Cohen xem xét có tồn tại khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán ở Hoa Kỳ hay không (Commission on Auditors Responsibilities [CAR], 1978).
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng trong BCKT dạng ngắn. BCKT dạng ngắn đã tạo ra sự hiểu lầm về trách nhiệm của KTV và nhà quản lý do không quy định rõ được mục tiêu và hạn chế của hoạt động kiểm toán và việc sử dụng các thuật ngữ dễ bị hiểu sai. Nghiên cứu này cũng đề xuất sự thay đổi hoặc xóa bỏ những thuật ngữ khó hiểu này. Libby (1979) dựa trên mười mẫu BCKT khác nhau trong nghiên cứu để so sánh giữa những KTV và các nhân viên tín dụng ngân hàng và nhận ra sự lo ngại khi không tiếp nhận được các thông tin truyền thông giữa KTV và người dùng một cách đầy đủ và điều này là chưa thể lý giải được.
Bailey và cộng sự (1983) kiểm tra sự khác biệt trong nhận thức về các thông điệp truyền tải trên BCKT khi thay đổi từ ngữ diễn giải trên BCKT và mức độ hiểu khác nhau của người sử dụng. Kết quả cho thấy sự thay đổi trong từ ngữ diễn giải trên BCKT đã tạo nên nhận thức khác nhau về các thông điệp truyền tải từ BCKT. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mức 11 độ hiểu biết của người dùng càng nhiều thì khoảng cách về trách nhiệm với KTV càng ít hơn. Monroe và Woodliff (1993) nghiên cứu về sự tác động của giáo dục lên sự tin tưởng về các thông điệp được truyền tải từ BCKT.
Đối tượng khảo sát là các sinh viên kế toán chưa tốt nghiệp đại học, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng giáo dục có ý nghĩa tác động đến sự tin tưởng của những sinh viên và đó là nguyên nhân của khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán. Vào năm 1994, hai nhà nghiên cứu trên cũng tìm ra được rằng sự thay đổi báo cáo dạng dài có ý nghĩa tác động đến sự tin tưởng và giảm thiểu khoảng cách ở một số khía cạnh. Tuy nhiên, xuất hiện một số sự khác nhau về nhận thức rõ ràng giữa các đối tượng khảo sát. Có thể khẳng định các nghiên cứu về cảm nhận thông điệp từ BCKT đã được hình thành từ giai đoạn khi mới bắt đầu xây dựng khái niệm khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán.
Tuy ban đầu là những nghiên cứu cơ bản được lồng ghép trong những nghiên cứu xác định sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán nhưng đây là những bước đi đầu tiên và làm cơ sở cho những nghiên cứu sau này. Tiếp theo tác giả sẽ tổng hợp những nghiên cứu liên quan đến sự khác biệt cảm nhận thông điệp từ BCKT gần đây nhất trong và ngoài nước mà đề tài có sự tham khảo và kế thừa từ những nghiên cứu này. Các nghiên cứu nƣớc ngoài Best và cộng sự (2001) thực hiện nghiên cứu để kiểm tra sự tồn tại khoảng cách thông tin ở BCKT dạng ngắn tại Singapore bằng việc xem xét sự khác biệt trong kỳ vọng của người sử dụng BCKT và nhận thức của KTV về vai trò của kiểm toán. Đối tượng khảo sát là 35 KTV, 26 nhân viên ngân hàng và 36 nhà đầu tư.
Kết quả cho thấy khoảng cách thông tin có tồn tại và có liên quan đến trách nhiệm của KTV về các vấn đề: KTV chịu trách nhiệm phát hiện tất cả các gian lận; KTV chịu trách nhiệm duy trì sổ sách kế toán; KTV chịu trách nhiệm trong việc ngăn ngừa hành vi gian lận; KTV thực hiện đánh giá trong việc lựa chọn thủ tục kiểm toán; KTV chịu trách nhiệm về tính hữu hiệu và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ; KTV đồng ý với các chính sách kế toán được sử dụng trong BCTC; BCTC phản ánh trung thực 12 và hợp lý; đơn vị được kiểm toán không có gian lận; BCTC đã được kiểm toán là hữu ích trong việc giám sát hoạt động của đơn vị. Kết quả nghiên cứu cho thấy khoảng cách thông tin tồn tại ở BCKT dạng ngắn, nguyên nhân được hình thành là do sự khác biệt trong nhận thức giữa KTV và người sử dụng BCKT về các thuật ngữ được sử dụng trên BCKT. Đề nghị của nhóm nghiên cứu nhằm làm giảm khoảng cách thông tin trên BCKT là việc chuyển sang sử dụng BCKT dạng dài, hạn chế sử dụng các thuật ngữ gây khó hiểu và bổ sung đoạn mô tả đầy đủ hơn về bản chất, vai trò và chức năng của kiểm toán. Gold và cộng sự (2009) nghiên cứu thực nghiệm để tìm hiểu nhận thức của người sử dụng BCTC về các vấn đề như trách nhiệm của nhà quản lý, trách nhiệm của KTV và độ tin cậy của BCTC được kiểm toán.
Mục đích chính của nghiên cứu là tìm ra giải pháp có thể rút ngắn khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán dưới dạng BCKT theo quy định của ISA 700 được sửa đổi.