Chương 1: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán đối với báo cáo kiểm toán Chương 2: Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán qua hoạt động thực tiễn. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật liên quan đến trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán. 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA KIỂM TOÁN VIÊN & DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỐI VỚI BÁO CÁO KIỂM TOÁN 1.1 Khái quát về kiểm toán và kiểm toán độc lập.1 Khái niệm Có thể nói hoạt động kiểm toán đã hình thành từ thời Ai Cập, La Mã cổ đại. Nguồn gốc từ xa xƣa của kiểm toán (audit) nghĩa là thông tin đƣợc phê chuẩn bằng cách các tài khoản về tài sản đƣợc đọc to lên và đƣợc một bên độc lập phê chuẩn.
Trong thời kỳ Trung cổ, hoạt động kiểm toán chủ yếu là thẩm tra độ chính xác của thông tin tài chính đƣợc thực hiện bởi các kiểm toán viên của Nhà nƣớc. Sau này đến thế kỷ 18, các công ty cổ phần ra đời và phát triển cùng với sự hình thành của thị trƣờng chứng khoán. Từ đó xuất hiện nhu cầu của chủ sở hữu cổ phần muốn kiểm tra tài chính nhằm tránh gian lận của ngƣời quản lý doanh nghiệp. Kiểm toán đƣợc ra đời phục vụ chủ yếu cho mục đích này.2 Hiện nay tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về hoạt động kiểm toán: Theo định nghĩa của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) thì “hoạt động kiểm toán là việc kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về báo cáo tài chính”2 Các chuyên gia trong lĩnh vực kiểm toán đƣa ra định nghĩa khá bao quát về kiểm toán nhƣ sau: “Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các tiêu chuẩn đã được thiết lập.
Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập”3 Họat động kiểm toán có nhiều hình thức khác nhau. Nếu phân loại kiểm toán theo chủ thể thực hiện, kiểm toán đƣợc chia thành ba loại hình nhƣ sau: ● Kiểm toán nhà nƣớc Là hoạt động kiểm toán do các cơ quan chức năng của nhà nƣớc tiến hành để kiểm tra sự tuân thủ quy định pháp luật về tài chính của đơn vị đƣợc kiểm tra (có sử dụng vốn 2 Nguyễn Thị Khuyên, Luận văn Thạc Sĩ Luật, Hà Nội, 2014, tr 5 3 Trƣờng Đại Học Kinh Tế TP.HCM, Giáo trình Kiểm Toán, Nxb Lao động, TP.HCM, 2019, tr 23 6 của Ngân sách nhà nƣớc). Chủ thể tiến hành kiểm tra có thể là: Kiểm toán nhà nƣớc, Thanh tra nhà nƣớc, Thanh tra tài chính chuyên ngành v.Ở Việt Nam, Cơ quan Kiểm toán nhà nƣớc là cơ quan kiểm toán cấp cao nhất, trực thuộc Quốc hội. Cơ quan này kiểm tra việc thực hiện ngân sách, quản lý sử dụng tài sản công.
● Kiểm toán nội bộ Là việc kiểm toán trong nội bộ doanh nghiệp theo yêu cầu của Ban quản trị hay Ban quản lý doanh nghiệp. Kiểm toán nội bộ do nhân viên của đơn vị tự thực hiện kiểm tra, đánh giá về các quy trình quản trị tài chính, quản lý rủi ro trong đơn vị mình. Mục tiêu của kiểm toán nội bộ thƣờng là sự hiệu quả và hữu hiệu của quy trình quản trị doanh nghiệp, phòng ngừa rủi ro, đánh giá việc thực hiện kế hoach của đơn vị. ● Kiểm toán độc lập Là hoạt động kiểm toán đƣợc tiến hành bởi các kiểm toán viên thuộc các doanh nghiệp kiểm toán độc lập.
Theo Luật kiểm toán độc lập 2011 thì “KTĐL là việc KTV hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mình về báo cáo tài chính (BCTC) và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán”4 Ở Việt Nam hoạt động KTĐL xuất hiện từ đầu những năm 1990, vài năm sau khi nƣớc ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trƣờng với sự tham gia của các thành phần kinh tế. Đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nƣớc ngoài phát triển nhanh chóng kéo theo nhu cầu dịch vụ KTĐL về báo cáo tài chính. Tháng 5/1991 đánh dấu mốc hình thành một công ty KTĐL đầu tiên ở Việt Nam là Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO). Sau đó các công ty kiểm toán cũng dần hình thành và phát triển.
Vào năm 2011 Luật kiểm toán độc lập ra đời, đánh dấu một bƣớc phát triển quan trọng về mặt pháp lý cho hoạt động KTĐL và chấm dứt một thời kỳ dài thiếu một luật chuyên ngành điều chỉnh hoạt động KTĐL. Hiện nay có khoảng 160 doanh nghiệp kiểm toán với hơn 11 ngàn nhân viên đang hoạt động trong lĩnh vực KTĐL trên phạm vi toàn quốc. 5 4 Khoản 1 điều 5 luật Kiểm toán độc lập 2011 5 Trƣờng Đại Học Kinh Tế TP.HCM, Giáo trình Kiểm Toán, Nxb Lao động, TP.HCM, 2019, tr 29 7 Các doanh nghiệp kiểm toán (DNKT) cung cấp các dịch vụ kiểm toán BCTC, soát xét thông tin theo thỏa thuận, tƣ vấn thuế và các dịch vụ khác có liên quan đến chuyên môn v.Trong đó dịch vụ kiểm toán BCTC thƣờng chiếm tỷ trọng doanh thu và nhân sự lớn nhất. Kiểm toán báo cáo tài chính (còn gọi tắt là kiểm toán tài chính) của khách hàng là việc kiểm tra nhằm đƣa ra ý kiến về tính hợp lý và trung thực về BCTC của khách hàng, dựa trên các tiêu chuẩn là chế độ kế toán, chuẩn mực Hiện nay hiểu theo nghĩa thông dụng thì thuật ngữ “kiểm toán” tức là kiểm toán báo cáo tài chính của khách hàng.
Do vậy, trong phạm vi bài luận văn này, tác giả cần lƣu ý thuật ngữ “kiểm toán” hay “kiểm toán độc lập” đề cập đến hoạt động kiểm toán BCTC của doanh nghiệp. Đây là dịch vụ mang tính điển hình và quan trọng nhất của các doanh nghiệp KTĐL hiện nay. Căn cứ theo điều 37 của Luật kiểm toán độc lập 2011, một số loại hình doanh nghiệp có ảnh hƣởng quan trọng đến lợi ích công chúng thì bắt buộc phải kiểm toán BCTC hàng năm, bao gồm: tổ chức tín dụng, doanh nghiệp bảo hiểm, công ty đại chúng, doanh nghiệp nhà nƣớc, doanh nghiệp kiểm toán, doanh nghiệp nƣớc ngoài v. Những mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của kiểm toán độc lập 1.
Mục tiêu của kiểm toán độc lập: KTĐL (hay còn gọi là kiểm toán BCTC) nhằm tăng độ tin cậy của ngƣời sử dụng báo cáo tài chính. Mục tiêu của cuộc kiểm toán là “Đạt được sự bảo đảm hợp lý rằng liệu BCTC, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không, từ đó giúp kiểm toán viên đưa ra ý kiến liệu BCTC có được lập phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng dựa trên khía cạnh trọng yếu hay không”6 Do đặc thù của lĩnh vực kiểm toán nên mục tiêu của kiểm toán là phát hiện các sai sót có tính trọng yếu chứ không phải tất cả các sai sót. Tùy vào xét đoán của KTV mà họ sẽ đặt ra mức trọng yếu khác nhau khi tiến hành kiểm toán tại khách hàng. “Mức trọng yếu thông thường được tính dựa trên 0,5%-1% doanh thu; 5%-10% lợi nhuận, 1%-2% tổng tài sản”.7 6 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 200), đoạn 3 7 Nguyễn Thị Nên, 2018.
Xác định quy mô tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC. Tạp chí Tài Chính, số 7/2018, tr. 3 8 Mặt khác, cuộc kiểm toán chỉ cung cấp mức độ bảo đảm hợp lý, chứ không bảo đảm tuyệt đối là báo cáo tài chính không còn nhƣng sai sót trọng yếu vì lý do luôn tồn tại một số mặt hạn chế vốn có của hoạt động kiểm toán nhƣ sau: Một là việc lập, trình bày BCTC đòi hỏi những xét đoán của đơn vị phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh thực tế. Có những nghiệp vụ kế toán mang tính nhận định chủ quan không chắc chắn tuyệt đối nhƣ: ƣớc tính khấu hao, dự phòng…Do vậy mà không có gì ngạc nhiên khi đƣa một bộ chứng từ phát sinh của doanh nghiệp cho ba nhân viên để hạch toán, họ có thể lập ra ba bộ BCTC với kết quả khác nhau (tất nhiên là mức khác biệt không nhiều).
Hai là khi tiến hành các thủ tục kiểm toán, có thể các bằng chứng kiểm toán bị giới hạn bởi các lý do nhƣ: Khách hàng cung cấp thông tin hoặc tài liệu không đầy đủ; Hành vi gian lận đƣợc che dấu kỹ; KVT không phải là cán bộ điều tra hay thanh tra viên của cơ quan nhà nƣớc nên không đƣợc thẩm quyền điều tra, xét hỏi nhƣ cơ quan công quyền. Đặc điểm hạn chế vốn có này ảnh hƣởng rất lớn đến sự thừa nhận về giới hạn trách nhiệm của KTV đối với kết quả của báo cáo kiểm toán. Kết quả sau cùng của một cuộc kiểm toán là Báo cáo kiểm toán đƣợc ký xác nhận bởi kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán. Báo cáo kiểm toán chính là ý kiến chính thức của kiểm toán viên về BCTC của đơn vị đƣợc kiểm toán.
Những nguyên tắc cơ bản của kiểm toán độc lập Để cuộc kiểm toán đạt đƣợc mục tiêu đề ra, theo quy định tại Điều 8 của Luật kiểm toán độc lập 2011, hoạt động KTĐL cần phải tuân theo một số nguyên tắc cơ bản nhƣ sau: ● Thứ nhất, hoạt động kiểm toán cần tuân thủ các pháp luật chuyên ngành về KTĐL nhƣ Luật kiểm toán độc lập, các Nghị định, Thông tƣ hƣớng dẫn Luật kiểm toán độc lập. Bên cạnh pháp luật chuyên ngành, một số luật khác cũng có thể có quy định về hoạt động kiểm toán nhƣ Luật chứng khoán, Luật doanh nghiệp v.v… ● Thứ hai, hoạt động kiểm toán thực hiện trong khuôn khổ của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, bao gồm chuẩn mực đạo đức và chuẩn mực chuyên môn. Mặc dù không phải là Luật, song các chuẩn mực nghề nghiệp rất cần thiết để hƣớng dẫn chi tiết các thủ tục kiểm toán mà không đƣợc quy định ở cấp độ Luật. Ở các nƣớc, chuẩn mực nghề nghiệp kiểm toán thƣờng là do Hội nghề nghiệp ban hành.
Trong khi đó ở Việt Nam, các chuẩn mực này đƣợc ban hành dƣới dạng Thông tƣ của Bộ Tài chính. 9 ● Thứ ba, hoạt động kiểm toán phải bảo đảm tính độc lập, trung thực, khách quan. Ba yêu cầu này này đƣợc coi nhƣ tôn chỉ của nghề nghiệp KTĐL.