CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chất lượng kiểm toán được định nghĩa là xác suất chung mà kiểm toán viên sẽ phát hiện một vi phạm trong hệ thống kế toán của khách hàng, và sẵn sàng báo cáo vi phạm đó (Fernando và đồng nghiệp, 2008). Hay một định nghĩa tương tự, giá trị của dịch vụ kiểm toán được xác định bởi khả năng của một công ty kiểm toán phát hiện ra sai sót trọng yếu trong hệ thống kế toán của khách hàng và báo cáo những sai sót trọng yếu đó (DeAngelo, 1981). Chênh lệch kiểm toán chính là một biểu hiện cụ thể của chất lượng kiểm toán, khi các công ty kiểm toán phát hiện ra càng nhiều sai sót và điều chỉnh những sai sót đó thì chênh lệch kiểm toán càng cao. Trên thế giới, rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để đo lường mức độ chênh lệch của BCTC trước và sau kiểm toán và các nhân tố ảnh hưởng tới điều chỉnh kiểm toán, tuy nhiên mỗi nghiên cứu đi theo một hướng khác nhau.1 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ NHÂN TỐ QUY MÔ DOANH NGHIỆP Có nhiều nghiên cứu về quy mô doanh nghiệp ảnh hưởng đến chất lượng của những điều chỉnh kiểm toán.
Các nghiên cứu của Atiase (1985), Bamber (1987), Person (1995), Llorente, Michaely, Saar và Wang (2002) cho thấy các doanh nghiệp lớn có một môi trường thông tin tốt hơn so với các doanh nghiệp nhỏ hơn. Cũng cùng quan điểm trên, Wright và Wright (1997) quan sát thấy rằng khách hàng càng lớn thì điều chỉnh kiểm toán càng giảm dần, điều này có thể được giải thích rằng các sai phạm trong công ty lớn là ít trọng yếu hơn so với công ty nhỏ. Hay nói cách khác, sự lựa chọn công ty kiểm toán là một yếu tố nội sinh, các công ty lớn với báo cáo thu nhập có lượng sẽ thuê kiểm toán chất lượng cao (R. Như vậy, quy mô doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến các điều chỉnh kiểm toán (Fernando và đồng nghiệp, 2008).2 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ NHÂN TỐ QUY MÔ CÔNG TY KIỂM TOÁN Một loạt các nghiên cứu về quy mô công ty kiểm toán ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán đã được thực hiện trong các năm qua.
Đa số các nghiên cứu tập trung đến đặc điểm công ty kiểm toán ở cấp quốc gia và cho đây là yếu tố quyết định cơ bản đến chất lượng kiểm toán (Simunic và Stein 1987; Becker và cộng sự 1998; Francis và Krishnan 1999; Kim và đồng nghiệp 2003; Choi và Doogar 2005). Những nghiên cứu này nhìn chung đều cho rằng các công ty kiểm toán lớn với thương hiệu quốc tế (Big 4) có chất lượng làm việc cao hơn và đưa ra những báo cáo kiểm toán có ý nghĩa hơn các công ty còn lại. Tuy nhiên, Wallman (1996) và Francis (2004) lập luận thêm rằng việc đánh giá này cần phải tập trung hơn vào cấp độ văn phòng riêng lẻ chứ không phải là toàn bộ công ty bởi vì hầu hết các quyết định điều chỉnh kiểm toán đối với một khách hàng cụ thể được thực hiện trong một văn phòng riêng lẻ.3 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ NHÂN TỐ THUỘC VỀ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ R. Francis (2004) đã liên kết chất lượng kiểm toán với Hội đồng quản trị (HĐQT) và các Ủy ban kiểm toán.
Nghiên cứu này cho thấy rằng chất lượng kiểm toán sẽ cao hơn khi Hội đồng và ủy ban kiểm toán độc lập hơn (nhiều thành viên bên ngoài hơn, hoặc không có sự khiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT), (Hermalin và Weisbach 1991; Klein 1998; và gần đây hơn của Hayes, Mehran và Scott 2004). Các nghiên cứu tập trung vào HĐQT độc lập (tính bằng tỷ lệ phần trăm của thành viên bên ngoài vào HĐQT), đều cho thấy rằng sự độc lập của HĐQT có mối tương quan ngược chiều đến khả năng gian lận tài chính và việc thực thi các quy định của SEC (Beasley 1996; Dechow và cộng sự 1996; Bhagat 2002). Trong khi đó, một số nhà nghiên cứu thấy rằng một HĐQT có số lượng thành viên lớn hơn thì cũng có chuyên môn lớn hơn một HĐQT với ít thành viên (Dalton và cộng sự, 1999), và nó thường có hiệu quả hơn trong việc giám sát chi phí dồn tích (Xie và đồng nghiệp 2003; Klein 2002 ). Điều này cũng có nghĩa rằng khi Hội đồng độc lập hơn thì ít có sự chi phối thu nhập hơn, (Anderson và đồng nghiệp, 2004).4 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ NHÂN TỐ ỦY BAN KIỂM TOÁN Trong bối cảnh các vấn đề gian lận kế toán trở nên nghiêm trọng tại Enron, WorldCom và các công ty đại chúng lớn khác, Quốc hội Mỹ đã thông qua Đạo luật Sarbanes - Oxley (SOX) vào tháng 1 năm 2002.
Biên bản này đã được coi là một pháp chế toàn diện nhất ảnh hưởng đến tính chính xác của BCTC (Defond và đồng nghiệp, 2005). SOX đòi hỏi một công ty niêm yết đại chúng phải có một ủy ban kiểm toán gồm các thành viên hoàn toàn độc lập và ít nhất một thành viên phải có kiến thức về tài chính. Các nghiên cứu về Ủy ban Kiểm toán xuất hiện từ năm 1996, McMullen (1996) và Dechow, Sloan, và Sweeney (1996) cho thấy rằng các công ty có gian lận BCTC thì gần như không có các ủy ban kiểm toán so với các công ty khác tại thời điểm nghiên cứu. Nghiên cứu này gợi ý rằng việc có một ủy ban kiểm toán có thể ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng báo cáo tài chính, tuy nhiên nghiên cứu này chỉ dừng lại ở đó mà không xem xét về đặc điểm của Ủy ban kiểm toán có ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính như thế nào.
Một số nghiên cứu gần đây tiếp tục hướng nghiên cứu này bằng cách tìm hiểu xem đặc điểm của Ủy ban kiểm toán ảnh hưởng đến các khía cạnh khác nhau của quá trình lập BCTC ra sao. Nói chung, các nghiên cứu cho rằng các ủy ban kiểm toán với một mức độ chuyên môn về kế toán/tài chính nhất định có thể giúp đảm bảo báo cáo tài chính đáng tin cậy bằng cách giám sát nghiêm ngặt quá trình lập báo cáo tài chính (Raghunandan và Rama 2001; Carcello và đồng nghiệp 2002). Các nghiên cứu khác của Felo và đồng nghiệp (2003) và Bryan và đồng nghiệp (2004) cho rằng, một Ủy ban kiểm toán với kiến thức về tài chính sẽ làm tăng chất lượng của báo cáo thu nhập. Sau đó Qin (2007) xem xét mối liên hệ giữa chuyên môn và tài chính với chất lượng thu nhập từ quan điểm hữu dụng của thông tin, đồng thời kiểm tra xem số lượng thành viên của ủy ban kiểm toán có chuyên môn về kế toán/ tài chính có liên quan đến chất lượng thu nhập như thế nào.
Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có các biến số lượng thành viên có chuyên môn về kế toán và số lượng thành viên ủy ban kiểm toán là tác động đáng kể đến chất lượng thu nhập.5 NGHIÊN CỨU VỀ CÁC TỶ SỐ TÀI CHÍNH Persons (1995) chỉ ra rằng đòn bẩy tài chính ( tổng nợ phải trả/tổng tài sản); vòng quay vốn (vốn/tổng tài sản lưu động và doanh thu/tổng tài sản); thành phần tài sản (Tài sản ngắn hạn/tổng tài sản, các khoản phải thu/tổng tài sản, hàng tồn kho/tổng tài sản) và quy mô doanh nghiệp là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng gian lận trên BCTC của doanh nghiệp. Hơn nữa, các doanh nghiệp gian lận có đòn bẩy tài chính cao hơn so với các doanh nghiệp còn lại. Persons cũng sử dụng biến khả năng sinh lời (lợi nhuận sau thuế /tổng tài sản, lợi nhuận giữ lại/tổng tài sản) để nghiên cứu và cho kết quả rằng các doanh nghiệp gian lận nhiều trên BCTC thì có lợi nhuận ít hơn so với các công ty không gian lận. Khi lợi nhuận thấp thì nhà quản lí có động cơ cao hơn trong việc phóng đại thu nhập hoặc giấu bớt chi phí.
Đồng thời Kreutzfeldt và Wallace (1986) thấy rằng các công ty có vấn đề về khả năng sinh lời có gian lận BCTC nhiều hơn so với các công ty khác. 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHÊNH LỆCH KIỂM TOÁN 2.1 TỔNG QUAN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH, KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ CHÊNH LỆCH KIỂM TOÁN 2.1 Báo cáo tài chính 2.1 Khái niệm Báo cáo tài chính (financial statements), theo nghĩa hẹp đề cập đến các bản báo cáo về tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và dòng lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp. BCTC hiểu theo nghĩa này bao gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Báo cáo về sự thay đổi vốn chủ sở hữu và Bản thuyết minh BCTC. Báo cáo tài chính, theo nghĩa rộng là công tác báo cáo tài chính (financial reporting), đó là toàn bộ quá trình chuẩn bị và cung cấp các thông tin tài chính cho các đối tượng sử dụng được thực hiện bằng các hình thức khác nhau, trong đó nội dung cơ bản là các BCTC theo nghĩa hẹp.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn cung cấp các giải thích của nhà quản lý (management commentory). Quá trình kiểm toán BCTC sẽ phát hiện ra các sai lệch trên BCTC cần phải điều chỉnh. Chênh lệch kiểm toán là chênh lệch giữa BCTC sau kiểm toán với BCTC trước kiểm toán. Trong đó : Báo cáo tài chính trước kiểm toán: Là báo cáo tài chính của đơn vị trình bày, chưa có sự kiểm tra và đánh giá của kiểm toán viên về tính trung thực, hợp lí của thông tin.
Nhiều công ty công bố các BCTC này với mục đích cung cấp các thông tin kịp thời cho các cổ đông. 9 Báo cáo tài chính sau kiểm toán: Là báo cáo tài chính đã có ý kiến của kiểm toán viên về tính trung thực, hợp lí của thông tin. Đây là BCTC chính thức của công ty công bố theo quy định của pháp luật.2 Vai trò của báo cáo tài chính Khuôn mẫu lý thuyết kế toán của Chuẩn mực BCTC quốc tế (IASB, 2010) có nêu rằng mục tiêu của BCTC là cung cấp thông tin hữu ích về tình hình tài chính, kết quả hoạt động và những thay đổi tình hình tài chính của một doanh nghiệp cho nhiều đối tượng sử dụng trong việc ra quyết định kinh tế. Một nội dung tương tự cũng được quy đinh trong Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 – Trình bày BCTC (Bộ Tài Chính, 2003).
Đối với doanh nghiệp, BCTC đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Thứ nhất, BCTC là công cụ hữu hiệu trong quá trình huy động vốn với chi phí tiết kiệm từ các nguồn lực trong xã hội. Với vai trò là cơ sở xây dựng các thông tin về cấu trúc tài chính, BCTC giúp các nhà đầu tư trong và ngoài nước tiếp cận thông tin của doanh nghiệp một cách dễ dàng.