Tổng quan luận án

Hoạt động kiểm toán nội bộ (KTNB) giữ vai trò là một chức năng đánh giá độc lập, trợ giúp nhà quản lý trong việc kiểm soát rủi ro, nâng cao tính kinh tế, tính hiệu lực và hiệu quả trong mọi hoạt động chức năng của tổ chức. Trong bối cảnh các tổ chức tín dụng phi ngân hàng tại Việt Nam phát triển nhanh chóng, công ty tài chính (CTTC) là loại hình doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính - tín dụng với đặc thù quản lý lượng tài sản tài chính lớn, tiềm ẩn nhiều rủi ro mang tính hệ thống như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất. Tuy nhiên, tại thời điểm nghiên cứu, hoạt động KTNB tại các CTTC Việt Nam chưa được triển khai đầy đủ, phương pháp tiếp cận kiểm toán còn nặng tính kiểm tra nghiệp vụ truyền thống, cơ cấu bộ máy và quy trình kiểm toán chưa vận hành hữu hiệu để đáp ứng yêu cầu quản trị doanh nghiệp hiện đại. Xuất phát từ khoảng trống thực tiễn và lý luận đó, tác giả Lê Thị Thu Hà đã thực hiện luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Tổ chức kiểm toán nội bộ tại các công ty tài chính Việt Nam".

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể theo ba nội dung:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về KTNB trong doanh nghiệp nói chung và các CTTC nói riêng, kết hợp khảo cứu kinh nghiệm quốc tế về tổ chức KTNB tại các tổ chức tín dụng (TCTD) để làm căn cứ nghiên cứu thực tiễn.
  2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng tổ chức KTNB tại các CTTC Việt Nam trên cả hai phương diện: tổ chức hoạt động và tổ chức bộ máy kiểm toán; chỉ rõ các kết quả đạt được, những hạn chế và luận giải nguyên nhân khách quan, chủ quan của các hạn chế.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị có tính khả thi nhằm hoàn thiện tổ chức KTNB tại các CTTC Việt Nam, tập trung vào chiến lược phát triển, đổi mới phương pháp tiếp cận kiểm toán trên cơ sở định hướng rủi ro và hoàn thiện cơ cấu bộ máy.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là tổ chức KTNB tại các CTTC Việt Nam, được tiếp cận trên hai cấu phần: tổ chức hoạt động KTNB (xác định phương pháp tiếp cận, lập kế hoạch, quy trình kỹ thuật, kiểm soát chất lượng) và tổ chức bộ máy KTNB (vị trí trong cơ cấu quản trị, mô hình tổ chức, nhân sự).

Phạm vi nghiên cứu về không gian bao gồm toàn bộ 12 CTTC đã thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2009 theo danh mục thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Phạm vi thời gian của các dữ liệu khảo sát, báo cáo hoạt động kinh doanh và số liệu kiểm toán được thu thập tập trung trong giai đoạn 2007 - 2009.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về KTNB theo từng nhóm chủ đề và giai đoạn phát triển:

Về nghiên cứu quốc tế:

  • Victor Z. Brink (1942) với tác phẩm Modern Internal Auditing đánh dấu mốc hình thành nghề KTNB chuyên nghiệp, chuyển dịch quan điểm từ kiểm tra kế toán thụ động sang chức năng hỗ trợ trực tiếp cho các nhà quản lý doanh nghiệp. Các ấn bản tiếp theo (Brink, 1999, tái bản lần 5; Brink & Moeller, 2005, tái bản lần 6; Moeller, 2009, Brink’s Modern Internal Auditing - A Common Body of Knowledge, tái bản lần 7) đã cập nhật các chuẩn mực kiểm toán theo Đạo luật Sarbanes - Oxley (SOA), đặc biệt là hướng dẫn đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ theo Điều 404 và làm rõ mối quan hệ giữa KTNB với Ủy ban kiểm toán (UBKT).
  • Lawrence B. Sawyer (2003, tái bản lần 5) tập trung phân tích định nghĩa KTNB năm 1999 của Viện Kiểm toán viên Nội bộ (IIA), nhấn mạnh sự dịch chuyển trọng tâm kiểm toán từ tài chính và tuân thủ sang kiểm toán hoạt động trong môi trường ứng dụng công nghệ thông tin.
  • Phil Griffiths (2005) với công trình Risk-based Auditing phân tích phương pháp tiếp cận kiểm toán định hướng rủi ro, phân biệt rõ kiểm toán tuân thủ truyền thống với kiểm toán định hướng rủi ro (xuất phát từ mục tiêu và rủi ro của tổ chức thay vì xuất phát từ các thủ tục kiểm soát có sẵn). David Griffiths (2006) phân tích việc tối ưu hóa nguồn lực kiểm toán thông qua việc loại bỏ tình trạng kiểm soát quá mức tại các khu vực rủi ro thấp.
  • Các ấn phẩm chuẩn mực của IIA (1978, 1999), Báo cáo COSO (1992) về kiểm soát nội bộ, tài liệu của Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC), Hiệp hội Kế toán viên Công chứng Anh (ACCA) và các khảo sát thực trạng KTNB toàn cầu của PricewaterhouseCoopers (PWC, 2007) cùng Ernst & Young (E&Y).

Về nghiên cứu trong nước:

  • Nguyễn Quang Quynh và cộng sự (1998) trong đề tài "Xây dựng hệ thống kiểm tra, kiểm soát trong quản lý vĩ mô và vi mô ở Việt Nam" tiếp cận KTNB dưới góc độ một yếu tố cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ.
  • Phan Trung Kiên (2008) với đề tài "Hoàn thiện tổ chức kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp xây dựng Việt Nam" đề xuất khái niệm "kiểm toán liên kết" giữa kiểm toán tài chính và kiểm toán tuân thủ.
  • Lê Thu Hằng (2007) với đề tài "Nghiên cứu xây dựng nội dung kiểm toán nội bộ doanh nghiệp vận tải ô tô" tập trung vào kiểm toán hoạt động dựa trên nhận diện rủi ro ngành vận tải.
  • Nguyễn Thị Hồng Thúy (2010) với đề tài "Hoàn thiện tổ chức kiểm toán nội bộ trong các tập đoàn kinh tế Việt Nam" nghiên cứu mô hình tổ chức KTNB trong các tập đoàn đa ngành.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về tổ chức KTNB tại các CTTC tại Việt Nam. Các CTTC có mô hình hoạt động trung gian tài chính phi ngân hàng, có cấu trúc tài sản, danh mục rủi ro và cơ chế quản lý hoàn toàn khác biệt với các doanh nghiệp sản xuất, thương mại hay ngân hàng thương mại (NHTM). Luận án là công trình đầu tiên giải quyết khoảng trống này bằng việc kết hợp lý luận quốc tế về kiểm toán định hướng rủi ro với thực tiễn hoạt động của các CTTC Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên các lý thuyết và khái niệm nền tảng:

  • Bản chất và vị trí của công ty tài chính: Là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, sử dụng vốn tự có và vốn huy động trung - dài hạn (không được nhận tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi ngắn hạn dưới 1 năm của cá nhân, không cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản) để cho vay, đầu tư, bao thanh toán, cho thuê tài chính và cung ứng dịch vụ tư vấn tài chính.
  • Khái niệm và bản chất KTNB theo IIA (1999): Là hoạt động đảm bảo và tư vấn mang tính độc lập, khách quan nhằm gia tăng giá trị và cải tiến hoạt động của tổ chức; giúp tổ chức đạt được mục tiêu thông qua phương pháp tiếp cận có hệ thống và có nguyên tắc nhằm đánh giá, nâng cao hiệu lực của quy trình quản lý rủi ro, kiểm soát và quản trị.
  • Khung phân tích 4 giai đoạn phát triển của phương pháp tiếp cận kiểm toán (Phil Griffiths):
    1. Giai đoạn 1 - Tiếp cận truyền thống (kiểm tra chi tiết giao dịch, định hướng tài chính và tuân thủ).
    2. Giai đoạn 2 - Tiếp cận hệ thống (đánh giá tính đầy đủ của các chu trình và thủ tục kiểm soát).
    3. Giai đoạn 3 - Tiếp cận định hướng rủi ro (Risk-based auditing, xuất phát từ mục tiêu tổ chức và mức độ kiểm soát rủi ro).
    4. Giai đoạn 4 - Tiếp cận hướng tới tương lai (Forward looking, đóng vai trò đối tác, tư vấn và cung cấp giải pháp).
  • Nguyên tắc tổ chức và hoạt động KTNB: Tính độc lập; Tuân thủ pháp luật và quy định; Trung thực, khách quan; Tính chuyên nghiệp; Tính hiệu quả kinh tế.
  • Mô hình tổ chức bộ máy KTNB: Mô hình tập trung, mô hình phân tán và mô hình kết hợp; cơ chế báo cáo trực thuộc Ủy ban Kiểm toán / Ban Kiểm soát hoặc trực thuộc Ban Tổng Giám đốc.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng:

  • Phương pháp luận: Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
  • Phương pháp định tính: Sử dụng kỹ thuật phân tích tài liệu văn bản, phân tích hệ thống, so sánh, đối chiếu kinh nghiệm quốc tế và phỏng vấn trực tiếp chuyên sâu. Tác giả thực hiện phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý và kiểm toán viên nội bộ tại 8 CTTC (PVFC, EVNFC, SDFC, CFC, CTTC Than - Khoáng sản, CTTC Hóa chất, CTTC Bưu điện...).
  • Phương pháp định lượng: Sử dụng phương pháp điều tra khảo sát bằng bảng câu hỏi cấu trúc. Tác giả gửi phiếu điều tra tới toàn bộ 12 CTTC Việt Nam và thu về 11 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ 91,67%). Dữ liệu thu thập được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả, phân loại, lập bảng tần số và bảng so sánh cơ cấu.

Nguồn dữ liệu:

  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập từ 11 phiếu khảo sát và các biên bản phỏng vấn trực tiếp tại các CTTC.
  • Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo tài chính, báo cáo hoạt động của các CTTC gửi Thanh tra Ngân hàng Nhà nước; quy chế nội bộ, cẩm nang kiểm toán của các đơn vị; số liệu thống kê công bố của Ngân hàng Nhà nước; các báo cáo nghiên cứu của PWC, E&Y, Dự án GTZ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lý luận của tổ chức kiểm toán nội bộ tại các công ty tài chính

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về CTTC và tổ chức KTNB trong các định chế này:

  • Đặc trưng của công ty tài chính ảnh hưởng đến KTNB: Luận án xác định 6 đặc điểm cơ bản chi phối hoạt động KTNB: (1) Quản lý quy mô tài sản tài chính và công cụ tiền tệ lớn, nhạy cảm với gian lận; (2) Chứa đựng các loại rủi ro mang tính dây chuyền (tín dụng, thanh khoản, lãi suất, tỷ giá); (3) Cung cấp sản phẩm dịch vụ tài chính vô hình, vận hành theo quy trình khép kín; (4) Thường xuyên phát triển các công cụ tài chính mới có độ phức tạp cao; (5) Cơ cấu tổ chức mạng lưới tương đối gọn nhẹ, quản lý tập trung tại trụ sở chính; (6) Chịu sự điều chỉnh chặt chẽ bởi các quy chế an toàn của Ngân hàng Nhà nước.
  • Bản chất và loại hình KTNB: Làm rõ 3 loại hình kiểm toán do KTNB thực hiện gồm kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động. Trong đó, kiểm toán hoạt động và kiểm toán quản lý rủi ro được xác định là trọng tâm cốt lõi đối với các CTTC.
  • Nội dung tổ chức KTNB: Phân định rõ hai nội dung:
    • Tổ chức hoạt động KTNB: Xác định phương pháp tiếp cận (chuyển dịch từ tiếp cận truyền thống/hệ thống sang định hướng rủi ro), lập kế hoạch kiểm toán năm dựa trên ma trận chấm điểm rủi ro, thực hiện quy trình kiểm toán 4 giai đoạn (lập kế hoạch cuộc kiểm toán, thực hiện kiểm toán, báo cáo kiểm toán, theo dõi sau kiểm toán) và kiểm soát chất lượng kiểm toán.
    • Tổ chức bộ máy KTNB: Phân tích vị trí của KTNB trong sơ đồ tổ chức doanh nghiệp. Để đảm bảo tính độc lập tối đa, bộ phận KTNB cần trực thuộc Ủy ban Kiểm toán thuộc Hội đồng quản trị (HĐQT), hoặc kết hợp báo cáo chức năng lên HĐQT/UBKT và báo cáo hành chính lên Tổng Giám đốc (TGĐ).
  • Kinh nghiệm quốc tế: Khảo cứu kinh nghiệm tổ chức KTNB tại các tổ chức tín dụng ở Mỹ, Pháp, Anh, Singapore; rút ra bài học cho Việt Nam về việc ban hành khung pháp lý chuẩn mực nghề nghiệp, chuẩn hóa quy trình đánh giá rủi ro và xác lập vị trí độc lập cho KTNB.

Chương 2. Thực trạng tổ chức kiểm toán nội bộ tại các công ty tài chính Việt Nam

Chương 2 trình bày bức tranh toàn cảnh về thực trạng tổ chức KTNB tại 12 CTTC Việt Nam đến ngày 31/12/2009 dựa trên kết quả khảo sát thực chứng:

Tiêu chí khảo sát Thực trạng ghi nhận tại các CTTC Việt Nam (đến 31/12/2009)
Số lượng đơn vị khảo sát 12 CTTC (11 đơn vị gửi phiếu phản hồi; khảo sát sâu tại 8 đơn vị)
Tình hình thành lập KTNB 8/12 CTTC đã thành lập bộ phận KTNB chuyên trách (Bảng 2.7)
Mô hình tổ chức bộ máy Chủ yếu theo mô hình tập trung tại Hội sở chính; trực thuộc Ban Kiểm soát hoặc trực thuộc Tổng Giám đốc
Quy mô nhân sự KTNB Quy mô nhỏ, phần lớn có từ 3 đến 7 KTVNB; trình độ chủ yếu là chuyên ngành kế toán, thiếu chuyên gia về công nghệ và rủi ro tài chính
Phương pháp tiếp cận Chủ yếu áp dụng phương pháp kiểm tra chi tiết truyền thống và tiếp cận hệ thống; chưa áp dụng phương pháp định hướng rủi ro
Trọng tâm loại hình kiểm toán Tập trung vào kiểm toán tuân thủ quy chế và kiểm tra tính chính xác của chứng từ, BCTC; kiểm toán hoạt động và kiểm toán rủi ro chưa được thực hiện độc lập
Hệ thống biểu mẫu, quy trình Đã ban hành quy chế KTNB nhưng quy trình, hồ sơ mẫu, chương trình kiểm toán cho từng nghiệp vụ (tín dụng, đầu tư, nguồn vốn) còn sơ sài

Các phát hiện cụ thể qua số liệu và tài liệu thực tế:

  • Về tổ chức hoạt động: Kế hoạch kiểm toán năm tại phần lớn các CTTC được xây dựng dựa trên kinh nghiệm chủ quan hoặc phân bổ đều theo thời gian/đơn vị, chưa dựa trên mô hình chấm điểm rủi ro định lượng. Quy trình kiểm toán nghiệp vụ tín dụng (Bảng 2.13), kiểm toán BCTC (Bảng 2.11), bảng câu hỏi đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ (Bảng 2.12) và hồ sơ kiểm toán (Bảng 2.14) còn mang tính hình thức, thiếu các chuẩn mực kỹ thuật định lượng mức độ rủi ro.
  • Về kết quả kiểm toán: Điển hình như tại Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí (PVFC), kết quả KTNB giai đoạn 2007 - 2009 (Bảng 2.16) đã phát hiện nhiều sai sót trong việc thẩm định tín dụng, quản lý tài sản bảo đảm và tuân thủ hạn mức ủy quyền, hỗ trợ Ban điều hành chấn chỉnh nghiệp vụ. Tuy nhiên, nhìn chung các phát hiện kiểm toán tại các CTTC chủ yếu mang tính sự vụ, hồi tố, chưa mang tính cảnh báo sớm rủi ro.
  • Đánh giá hạn chế và nguyên nhân:
    • Hạn chế: Nhận thức về vai trò KTNB còn coi là bộ phận "thanh tra, bắt lỗi"; phương pháp kiểm toán lạc hậu; phạm vi kiểm toán hẹp; tính độc lập của bộ máy chưa cao; nguồn nhân lực thiếu chứng chỉ chuyên môn quốc tế (như CIA); kiểm soát chất lượng KTNB chưa được thiết lập bài bản.
    • Nguyên nhân khách quan: Khuôn khổ pháp lý của Ngân hàng Nhà nước đối với KTNB tại TCTD phi ngân hàng chưa đồng bộ; thiếu hệ thống chuẩn mực thực hành KTNB quốc gia; thị trường tài chính biến động phức tạp.
    • Nguyên nhân chủ quan: Lãnh đạo các CTTC chưa đầu tư đúng mức cho KTNB; thiếu ngân sách và công cụ phần mềm hỗ trợ kiểm toán; năng lực chuyên môn của KTVNB về phân tích định lượng và công cụ tài chính phái sinh còn hạn chế.

Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm toán nội bộ tại các công ty tài chính Việt Nam

Chương 3 đề xuất định hướng và 7 nhóm giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện tổ chức KTNB tại các CTTC Việt Nam:

  1. Xây dựng chiến lược phát triển KTNB: Xác định rõ sứ mệnh, tầm nhìn, mục tiêu trung và dài hạn của KTNB gắn liền với chiến lược quản trị rủi ro của từng CTTC; xây dựng lộ trình nâng cao năng lực kiểm toán định kỳ.
  2. Đổi mới phương pháp tiếp cận kiểm toán trên cơ sở định hướng rủi ro:
    • Xây dựng hồ sơ rủi ro (risk profile) cho toàn bộ các quy trình nghiệp vụ (tín dụng, đầu tư, nguồn vốn, kinh doanh tiền tệ).
    • Thiết lập bảng chấm điểm rủi ro (Bảng 3.1) và ma trận đánh giá ảnh hưởng - khả năng xảy ra rủi ro (Bảng 3.3, Bảng 3.5) để phân loại đối tượng kiểm toán thành các mức độ: rủi ro cao, trung bình, thấp.
    • Xây dựng kế hoạch kiểm toán năm dựa trên kết quả xếp hạng rủi ro, ưu tiên tập trung nguồn lực kiểm toán vào các khu vực rủi ro cao nhất.
  3. Hoàn thiện quy trình và phương pháp kỹ thuật KTNB:
    • Chuẩn hóa quy trình kiểm toán 4 giai đoạn: Lập kế hoạch cuộc kiểm toán; Thực hiện kiểm toán; Báo cáo kiểm toán; Theo dõi sau kiểm toán.
    • Thiết kế chi tiết các chương trình kiểm toán mẫu cho từng nghiệp vụ đặc thù, đặc biệt là thủ tục kiểm toán nghiệp vụ tín dụng (Bảng 3.4) và quản lý danh mục đầu tư tài chính.
    • Chuẩn hóa hệ thống giấy làm việc, hồ sơ kiểm toán mẫu và cấu trúc báo cáo kiểm toán nội bộ.
  4. Mở rộng loại hình và phạm vi kiểm toán: Chuyển dịch trọng tâm sang kiểm toán hoạt động và kiểm toán hệ thống kiểm soát rủi ro; mở rộng kiểm toán hệ thống công nghệ thông tin và đánh giá hiệu năng quản trị.
  5. Hoàn thiện kiểm soát chất lượng KTNB: Thiết lập cơ chế kiểm soát chất lượng nội bộ thường xuyên (soát xét giấy làm việc theo cấp bậc) và định kỳ thực hiện đánh giá độc lập chất lượng hoạt động KTNB từ bên ngoài.
  6. Hoàn thiện tổ chức bộ máy KTNB: Kiện toàn vị trí bộ phận KTNB trực thuộc Ủy ban Kiểm toán (thuộc HĐQT đối với CTTC cổ phần) hoặc Ban Kiểm soát chuyên trách (đối với CTTC 100% vốn tập đoàn nhà nước); áp dụng mô hình tổ chức tập trung phù hợp với mạng lưới gọn nhẹ của CTTC.
  7. Phát triển nguồn nhân lực KTNB: Đa dạng hóa chuyên môn nhân sự (kế toán, tài chính ngân hàng, luật, công nghệ thông tin); đào tạo cập nhật kiến thức theo chuẩn mực IIA; xây dựng cơ chế đãi ngộ và lộ trình phát triển nghề nghiệp rõ ràng cho KTVNB.

Hệ thống kiến nghị thực hiện:

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính): Hoàn thiện hành lang pháp lý, ban hành quy chế mẫu về KTNB áp dụng riêng cho khối TCTD phi ngân hàng; nghiên cứu xây dựng Chuẩn mực KTNB Việt Nam phù hợp với chuẩn mực quốc tế.
  • Đối với các CTTC: Nâng cao nhận thức của HĐQT và Ban điều hành về KTNB; tăng cường đầu tư ngân sách, công nghệ và phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm độc lập của KTVNB.
  • Đối với các tổ chức nghề nghiệp (Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam): Đẩy mạnh đào tạo, cấp chứng chỉ hành nghề KTNB chuyên nghiệp, kết nối hợp tác với IIA để phổ biến kiến thức và thông lệ quốc tế.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Luận án hệ thống hóa và phát triển lý luận về KTNB gắn với đặc thù kinh doanh của các CTTC với tư cách là một định chế tài chính phi ngân hàng.
  • Làm rõ bản chất và các điều kiện áp dụng phương pháp tiếp cận kiểm toán trên cơ sở định hướng rủi ro (Risk-based auditing) trong môi trường hoạt động của các tổ chức tín dụng.
  • Khái quát hóa các mô hình tổ chức bộ máy KTNB và vị trí báo cáo tối ưu nhằm bảo đảm tính độc lập và khách quan của KTVNB trong các mô hình sở hữu CTTC khác nhau (công ty cổ phần và công ty trực thuộc tập đoàn kinh tế).

Về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bức tranh toàn cảnh, có hệ thống và đầy đủ dữ liệu thực chứng đầu tiên về thực trạng tổ chức bộ máy và hoạt động KTNB tại toàn bộ 12 CTTC Việt Nam giai đoạn đến năm 2009.
  • Chỉ ra các điểm nghẽn thực tế: sự thiếu hụt về công cụ định lượng rủi ro, quy trình kiểm toán còn phân tán, nhân sự mỏng và tính độc lập chưa được bảo đảm trọn vẹn.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện có tính ứng dụng thực tiễn cao, kèm theo các công cụ kỹ thuật cụ thể có thể áp dụng trực tiếp tại các CTTC: Bảng chấm điểm rủi ro, Ma trận đánh giá rủi ro, Mẫu chương trình kiểm toán nghiệp vụ tín dụng, Quy trình hồ sơ kiểm toán mẫu và Sơ đồ ma trận kiểm toán nội bộ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Dữ liệu khảo sát thực chứng và số liệu thống kê dừng lại ở mốc thời gian ngày 31 tháng 12 năm 2009 với quy mô 12 CTTC tại Việt Nam.
  • Các khảo sát chuyên sâu tập trung chủ yếu vào các nghiệp vụ truyền thống (tín dụng, đầu tư, kế toán tài chính); các nghiệp vụ công cụ tài chính phái sinh phức tạp mới xuất hiện chưa có đủ dữ liệu lịch sử để đánh giá sâu.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Nghiên cứu mô hình tổ chức KTNB trong điều kiện ứng dụng ngân hàng số, hệ thống thông tin lõi (Core Banking/Core Financial) và tự động hóa quy trình nghiệp vụ tài chính.
  • Đánh giá tác động của các quy định pháp luật mới (như Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi, các Thông tư của Ngân hàng Nhà nước về hệ thống kiểm soát nội bộ ban hành trong các giai đoạn tiếp theo) đối với tổ chức KTNB tại các TCTD phi ngân hàng.
  • Nghiên cứu định lượng đánh giá mối quan hệ giữa hiệu quả của hoạt động KTNB định hướng rủi ro với hiệu quả tài chính và mức độ giảm thiểu tổn thất tín dụng tại các công ty tài chính.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn chuyên sâu:

  • Đối với các nhà quản lý và KTVNB tại các công ty tài chính, tổ chức tín dụng: Tham khảo trực tiếp khung hướng dẫn xây dựng hồ sơ rủi ro, bảng chấm điểm rủi ro, quy trình kiểm toán 4 giai đoạn và hệ thống biểu mẫu kiểm toán mẫu để kiện toàn bộ máy và hoạt động KTNB tại đơn vị.
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính): Cung cấp cơ sở thực tiễn phục vụ việc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật, quy định an toàn và quy chế kiểm tra, kiểm soát nội bộ đối với khối định chế tài chính phi ngân hàng.
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán, Tài chính - Ngân hàng: Là tài liệu tham khảo hữu ích về phương pháp tiếp cận kiểm toán định hướng rủi ro và phương pháp luận nghiên cứu thực chứng trong lĩnh vực kiểm toán nội bộ doanh nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Điểm khác biệt cơ bản giữa phương pháp tiếp cận kiểm toán hệ thống và phương pháp tiếp cận định hướng rủi ro được luận án chỉ ra là gì?
Phương pháp tiếp cận hệ thống tập trung xem xét tính đầy đủ và tính hiệu lực của bản thân các thủ tục kiểm soát hiện có trong tổ chức (trả lời câu hỏi: "Các thủ tục kiểm soát có đầy đủ và hiệu lực hay không?"). Ngược lại, phương pháp tiếp cận định hướng rủi ro xuất phát từ chính mục tiêu của tổ chức và các rủi ro đe dọa việc đạt được mục tiêu đó, từ đó đánh giá các hoạt động kiểm soát nhằm quản lý các rủi ro (chuyển trọng tâm sang câu hỏi: "Rủi ro được kiểm soát tới mức độ nào?").

2. Luận án đã tiến hành khảo sát thực tế tại bao nhiêu công ty tài chính và tỷ lệ phản hồi đạt bao nhiêu?
Luận án gửi phiếu khảo sát tới toàn bộ 12 CTTC hoạt động tại Việt Nam tính đến ngày 31/12/2009. Số phiếu thu về hợp lệ là 11/12 phiếu (đạt tỷ lệ 91,67%). Đồng thời, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu và khảo sát trực tiếp tại 8 trong số 12 CTTC (bao gồm PVFC, EVNFC, SDFC, CFC, CTTC Than - Khoáng sản, CTTC Hóa chất, CTTC Bưu điện...).

3. Tại sao tổ chức bộ máy KTNB tại các công ty tài chính thường được khuyến nghị theo mô hình quản lý tập trung?
Do đặc thù các CTTC tại Việt Nam không mở rộng mạng lưới giao dịch bán lẻ rộng khắp như các NHTM mà chủ yếu hoạt động tập trung tại trụ sở chính, các chi nhánh hoặc văn phòng đại diện mở tại các địa bàn trọng điểm. Mô hình tổ chức KTNB tập trung tại Hội sở chính giúp tối ưu hóa nguồn nhân lực chuyên môn, bảo đảm tính độc lập và phù hợp với cơ cấu quản lý tinh gọn của CTTC.

4. Luận án đề xuất những công cụ kỹ thuật cụ thể nào để thực hiện kiểm toán định hướng rủi ro tại CTTC?
Tác giả đề xuất hệ thống công cụ gồm: Bảng xây dựng hồ sơ rủi ro (Risk Profile) cho từng nghiệp vụ; Mô hình và Bảng chấm điểm rủi ro theo thang đo 2 tiêu chí (khả năng xảy ra rủi ro và mức độ tác động của rủi ro); Ma trận kiểm toán nội bộ; Chương trình kiểm toán mẫu nghiệp vụ tín dụng và Mẫu hồ sơ, báo cáo kiểm toán chuẩn hóa.

5. Vị trí tối ưu của bộ phận KTNB trong cơ cấu tổ chức CTTC được luận án xác định như thế nào?
Để đảm bảo tính độc lập và hiệu lực cao nhất, bộ phận KTNB phải trực thuộc cơ quan có thẩm quyền cao nhất: trực thuộc Ủy ban Kiểm toán (thuộc HĐQT đối với CTTC cổ phần) hoặc Ban Kiểm soát chuyên trách (đối với CTTC 100% vốn tập đoàn nhà nước); trường hợp đặt dưới sự điều hành hành chính của Tổng Giám đốc thì các kế hoạch kiểm toán, bổ nhiệm nhân sự và báo cáo kết quả kiểm toán vẫn phải do HĐQT/UBKT trực tiếp phê duyệt và giám sát.

Kết luận

Luận án "Tổ chức kiểm toán nội bộ tại các công ty tài chính Việt Nam" của tác giả Lê Thị Thu Hà là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về hoạt động KTNB tại khối tổ chức tín dụng phi ngân hàng ở Việt Nam. Luận án đã làm rõ cơ sở lý luận về kiểm toán định hướng rủi ro, phân tích toàn diện thực trạng tổ chức bộ máy và hoạt động KTNB tại các CTTC đến năm 2009, đồng thời chỉ ra các nguyên nhân căn bản của các hạn chế thực tế. Hệ thống 7 nhóm giải pháp và các công cụ biểu mẫu kiểm toán mẫu do luận án đề xuất có giá trị ứng dụng thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho việc nâng cao năng lực quản trị rủi ro và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các công ty tài chính Việt Nam.