lời mở đầu “Giải thích các chuẩn mực kiểm toán” của Vương quốc Anh, “Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những công việc đã theo đúng với bất kỳ nghĩa vụ pháp định có liên quan”. Với khái niệm này, kiểm toán là công việc kiểm tra độc lập và bày tỏ ý kiến về các bản khai tài chính do một kiểm toán viên thực hiện theo những yêu cầu pháp định. Beasley (2011) cho rằng: “Kiểm toán là sự tích luỹ và đánh giá bằng chứng về thông tin để quyết định và báo cáo về sự phù hợp của thông tin đó so với các tiêu chuẩn được thiết lập. Kiểm toán được thực hiện bởi một người độc lập, có năng lực chuyên môn”.
So với khái niệm của Vương quốc Anh, khái niệm này đề cập thêm ba vấn đề chính: Tính độc lập, trình độ chuyên môn của kiểm toán viên, sự phù hợp của những thông tin tài chính so với các tiêu chuẩn đã được thiết lập. Nguyễn Quang Quynh và Nguyễn Thị Phương Hoa (2017) cho rằng: “Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động được kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực”. Thông qua các khái niệm trên, có thể rút ra những đặc trưng cơ bản của kiểm toán truyền thống là: Một là, kiểm toán là sự kiểm tra và bày tỏ ý kiến về các bản khai tài chính hoặc thực trạng hoạt động của một đơn vị; Hai là, hoạt động kiểm toán được thực hiện bởi một hoặc nhiều kiểm toán viên tiến hành độc lập, có chuyên môn nghiệp vụ; Ba là, hoạt động kiểm toán đánh giá sự phù hợp của thông tin so với các tiêu chuẩn 6 đã được thiết lập; Bốn là, hoạt động kiểm toán sử dụng một hệ thống phương pháp kỹ thuật bao gồm cả những phương pháp kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ. Kiểm toán BCTC được xem như hoạt động đặc trưng nhất của kiểm toán, nơi chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến được thể hiện rõ nhất.
Một cuộc kiểm toán BCTC sẽ bao gồm các yếu tố cơ bản sau: Đối tượng trực tiếp của kiểm toán BCTC là các BCTC của Doanh nghiệp. Theo Luật Kế toán 2015, “Báo cáo tài chính là hệ thống thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán được trình bày theo biểu mẫu quy định tại chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán”. Ngoài đối tượng trực tiếp là các bảng khai tài chính, để xác minh và bày tỏ ý kiến, kiểm toán viên còn phải thu thập và kiểm tra các đối tượng khác như: các sổ và chứng từ kế toán của đơn vị, kết quả phỏng vấn hoặc giải trình do khách thể cung cấp hoặc các thông tin được thu thập bên ngoài khách thể. Chủ thể của kiểm toán BCTC chủ yếu là kiểm toán độc lập và kiểm toán nhà nước.
Trong một cuộc kiểm toán BCTC do kiểm toán độc lập thực hiện, thông tin tài chính thường sẽ được sử dụng nhằm phục vụ cho các nhà quản lý, chủ sở hữu của đơn vị, các ngân hàng, cơ quan Nhà nước… Khách thể kiểm toán BCTC chủ yếu là các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức có nhu cầu xác minh các bảng khai tài chính. Trong một cuộc kiểm toán BCTC do kiểm toán độc lập thực hiện, mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm toán là mối quan hệ ngoại kiểm, qua đó thể hiện rõ chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến của kiểm toán, làm tăng tính khách quan, độc lập của kết quả kiểm toán. Kết quả kiểm toán BCTC thường được trình bày trên các báo cáo kiểm toán. Trong một cuộc kiểm toán BCTC do kiểm toán độc lập thực hiện, báo cáo kiểm toán độc lập là nơi kiểm toán viên đưa ra ý kiến kiểm toán (audit opinion) về tính trung thực, hợp lý của các bảng khai tài chính, căn cứ theo các chuẩn mực, chính sách kế toán được áp dụng tuỳ thuộc vào phạm vi công việc của cuộc kiểm toán.
Đồng thời với ý kiến về các bảng khai tài chính, chủ thể kiểm toán còn có thể phát hành cho những nhà quản lý của khách thể kiểm toán các thư quản lý (management letter). Các vấn đề được đề cập trong thư quản lý thường liên quan đến những tồn tại, hạn chế trong kiểm soát nội bộ (KSNB), hệ thống thông tin kế toán… của khách thể kiểm toán, ảnh hưởng của chúng đến mục tiêu, kế hoạch của đơn vị và đề xuất một số phương án khắc phục trong những năm tài chính tiếp theo. Đây là cách thức mà các công ty kiểm toán độc lập đem lại giá trị gia tăng cho khách hàng của họ. Khái niệm, vai trò của kiểm soát chất lượng kiểm toán Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, với mục đích khác nhau sẽ có nhiều quan điểm về chất lượng khác nhau.
Theo định nghĩa của Tiêu chuẩn ISO 9000:2005 do Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế ban hành thì “chất lượng là mức độ phù hợp của sản phẩm hoặc dịch vụ thoả mãn các yêu cầu đề ra hoặc định trước của người mua”. Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 220 – Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính: “Chất lượng hoạt động kiểm toán là mức độ thoả mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của kiểm toán viên; đồng thời thoả mãn mong muốn của đơn vị được kiểm toán về những ý kiến đóng góp của kiểm toán viên, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, trong thời gian định trước với giá phí hợp lý”. Kiểm toán là một hoạt động đặc biệt, cung cấp dịch vụ đảm bảo để những người sử dụng thông tin an tâm, tin cậy về chất lượng của thông tin đã được kiểm toán. Ngành kiểm toán chỉ có thể tồn tại khi dịch vụ kiểm toán được cung cấp có chất lượng cao, thoả mãn các yêu cầu đề ra của người sử dụng thông tin.
Chất lượng kiểm toán, do đó, được đo lường bởi sự thoả mãn nhu cầu của người sử dụng thông tin. Nếu kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến kiểm toán không phù hợp, hay không làm thoả mãn sự hài lòng của khách hàng hoặc của những người sử dụng thông tin tài chính, hậu quả có thể xảy ra là làm ảnh hưởng đến uy tín của công ty, về lâu dài có nguy cơ mất thị trường khách hàng. Kiểm soát chất lượng kiểm toán, do vậy, có vai trò lớn nhất là đảm bảo kết quả kiểm toán đạt các tiêu chuẩn chất lượng, đáp ứng các yêu cầu của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan và độ tin cậy, đồng thời thoả mãn những mong muốn của khách hàng trước, trong và sau một cuộc kiểm toán. Ngoài ra, kiểm soát chất lượng kiểm toán còn đem lại nhiều lợi ích khác như: Một là, giúp các doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị có nhận thức đúng đắn về hoạt động kiểm toán và chất lượng của kết quả kiểm toán, từ đó lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán có chất lượng cao.
Hai là, tạo nền tảng để doanh nghiệp kiểm toán xây dựng, bổ sung hệ thống thủ tục kiểm toán, thủ tục kiểm soát chất lượng kiểm toán; chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quản lý, điều hành hoạt động kiểm toán. Từ đó, doanh nghiệp kiểm toán có thể sửa đổi, bổ sung những nội dung cần thiết nhằm phù hợp với thực tiễn hoạt động kiểm toán và yêu cầu quản lý. 8 Ba là, góp phần giảm thiểu, ngăn ngừa tiêu cực trong quản lý, điều hành hoạt động kiểm toán; hạn chế những sai phạm có thể xảy ra liên quan tới tính độc lập, trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên. Bốn là, đánh giá trình độ, năng lực và đạo đức của kiểm toán viên, làm cơ sở cho việc tuyển dụng, đào tạo bồi dưỡng, phân công nhiệm vụ và đánh giá kết quả công việc phù hợp.
Vì các vai trò trên, việc thiết lập và duy trì cơ chế kiểm soát chất lượng hiệu lực và hiệu quả, bao gồm các yếu tố bên trong doanh nghiệp kiểm toán và bên ngoài như các cơ quan quản lý Nhà nước, các hiệp hội nghề nghiệp là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán tại Việt Nam. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán có thể được tổng hợp thành hai nhóm chủ yếu là: nhóm các yếu tố bên ngoài và nhóm các yếu tố bên trong. Nhóm các yếu tố bên ngoài gồm có: Môi trường kinh tế, xã hội: Ở những thị trường khác nhau, sẽ có những yêu cầu khác nhau về phạm vi công việc kiểm toán và chất lượng của cuộc kiểm toán. Có những đối tượng cần kiểm toán theo quy định của nhà nước sở tại, có đối tượng cần kiểm toán do yêu cầu quản lý của tập đoàn hay kiểm toán các thông tin đặc biệt phục vụ mục đích niêm yết trên sàn chứng khoán.
Tương tự, ở mỗi quốc gia khác nhau với cơ sở phát triển của nền kinh tế khác nhau, nhu cầu của người sử dụng thông tin đối với kết quả kiểm toán cũng sẽ khác nhau. Ví dụ, các nước phát triển trên thế giới như Anh, Hoa Kỳ… sẽ có hệ thống phương pháp luận kiểm toán chặt chẽ hơn cùng các quy định về kiểm soát chất lượng bài bản hơn so với Việt Nam, nhằm đáp ứng nhu cầu khắt khe hơn của người sử dụng thông tin. Môi trường pháp lý: Một doanh nghiệp kiểm toán muốn hoạt động tại một quốc gia sẽ phải tuân thủ những quy định pháp lý về thành lập doanh nghiệp, hành nghề kiểm toán, hay kiểm toán một loại hình doanh nghiệp cụ thể. Các chính sách kinh tế của Nhà nước sẽ có tác động rõ nét đến chất lượng kiểm toán.
Ở Việt Nam, môi trường pháp lý có ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp kiểm toán thông qua các văn bản pháp luật, trong đó nổi bật nhất bao gồm: • Luật kiểm toán độc lập do Quốc hội ban hành ngày 29/03/2011, là khung pháp lý cao nhất quy định nguyên tắc, điều kiện, phạm vi, hình thức hoạt động kiểm toán độc lập; quyền, nghĩa vụ của kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam và đơn vị được kiểm toán.