Chương 1: một số Lý LUậN CƠ BảN về QUi TRìNH kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng thương mại 1. MộT Số Lý LUậN về kiểm toán nội bộ trong ngân hàng thương mại 1. Khái niệm kiểm toán nội bộ và kiểm toán nội bộ Ngân hàng Thương mại Định nghĩa kiểm toán nội bộ: Có nhiều tổ chức đƣa ra các định nghĩa khác nhau về kiểm toán nội bộ. Định nghĩa của Học viện Kiểm toán viên nội bộ Hoa Kỳ (IIA): Định nghĩa năm 1947: “Kiểm toán nội bộ là hoạt động đánh giá độc lập trong một tổ chức về công tác kế toán, tài chính và các công tác khác của tổ chức đó.
Hoạt động kiểm toán nội bộ đƣợc xem nhƣ là các dịch vụ mang tính bảo vệ và xây dựng hỗ trợ cho ban giám đốc” Định nghĩa năm 1981: “Kiểm toán nội bộ là một chức năng đánh giá độc lập đƣợc thiết lập trong một tổ chức để đánh giá và kiểm tra các hoạt động kinh doanh của tổ chức đó. Hoạt động kiểm toán nội bộ đƣợc xem là một dịch vụ hỗ trợ cho chính tổ chức đó” Định nghĩa năm 1999: “Kiểm toán nội bộ là hoạt động xác nhận và tƣ vấn mang tính độc lập, khách quan đƣợc thiết lập nhằm tạo ra giá trị gia tăng, nâng cao hiệu quả hoạt động của một tổ chức. Kiểm toán nội bộ giúp cho tổ chức đạt đƣợc các mục tiêu của mình thông qua việc tạo ra một cách tiếp cận có hệ thống, có tính kỷ luật để đánh giá, nâng cao hiệu lực của quy trình quản trị doanh nghiệp, quy trình kiểm soát và việc quản lý rủi ro”. Theo Liên đoàn kế toán Quốc tế (IFAC): Kiểm toán nội bộ là “một hoạt động đánh giá đƣợc lập ra trong một doanh nghiệp nhƣ là một loại dịch vụ cho doanh nghiệp đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát thích hợp và hiệu quả của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ” 3 Tại Việt Nam, hoạt động kiểm toán nội bộ mới triển khai từ năm 1997 theo Nghị định số 59/CP ngày 03/10/1996 của Chính phủ về Quy chế Quản lý tài chính và Hạch toán kinh doanh và Quyết định 832/TC/QĐ/CĐKT ngày 28/10/1997 của Bộ Tài chính ban hành Quy chế Kiểm toán nội bộ áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nƣớc cùng với các thông tƣ hƣớng dẫn: Thông tƣ 52/1998/TT-BTC ngày 16/4/1998 và Thông tƣ 171/1998/TT-BTC ngày 22/12/1998.
Riêng đối với các tổ chức tín dụng, Ngân hàng nhà nƣớc đã ban hành Quyết định 37/2006/QĐ-NHNN ngày 01/08/2006 về Quy chế Kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng. Trong quy chế có quy định rõ Ngân hàng phải thƣờng xuyên tổ chức kiểm toán nội bộ nhằm đánh giá chất lƣợng tin cậy của thông tin kế toán, tài chính; về bảo vệ an toàn tài sản của Ngân hàng; về chấp hành pháp luật, chính sách chế độ của nhà nƣớc cũng nhƣ các quyết định, nghị quyết của Hội đồng quản trị, của Ban giám đốc ngân hàng đối với hoạt động của Ngân hàng. Cũng theo quy chế kiểm toán nội bộ thì kiểm toán nội bộ của Ngân hàng Thƣơng mại đƣợc thực hiện bởi một bộ phận của Ngân hàng. Bộ phận này không thực hiện một hoạt động tác nghiệp hay điều hành nào mà hoạt động theo các tiêu chuẩn chuyên môn mà các Ngân hàng quy định phù hợp với các thông lệ quốc tế và các chuẩn mực của kiểm toán nội bộ.
Với các nƣớc phát triển, kiểm toán nội bộ của Ngân hàng Thƣơng mại có thẩm quyền thực hiện kiểm toán tất cả các lĩnh vực hoạt động của Ngân hàng. Từ đó, ta có định nghĩa chung nhất về kiểm toán nội bộ (KTNB) trong Ngân hàng Thƣơng mại (NHTM): Kiểm toán nội bộ NHTM là quá trình hoạt động một cách có hệ thống, có kỷ luật và độc lập của những ngƣời có thẩm quyền trong Ngân hàng nhằm kiểm tra, đánh giá về chất lƣợng và độ tin cậy của các thông tin tài chính và phi tài chính của Ngân hàng, đồng thời đƣa ra khuyến nghị nhằm 4 nâng cao hiệu quả của công tác quản lý rủi ro, kiểm soát nội bộ và quản trị điều hành của Ngân hàng. Nhƣ vậy, KTNB là hoạt động tƣ vấn và đảm bảo một cách khách quan và độc lập đƣợc thiết lập trong nội bộ Ngân hàng nhằm tăng cƣờng và cải thiện chất lƣợng hoạt động Ngân hàng. Mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ Ngân hàng Thương mại 1.
Mục tiêu của kiểm toán nội bộ Theo định nghĩa về KTNB, có thể thấy mục tiêu hoạt động của KTNB đƣợc đƣa ra ở một phạm trù khá rộng là tạo ra giá trị gia tăng cho tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức. Trong đó giá trị gia tăng đƣợc hiểu là giá trị đƣợc tạo ra thông qua việc cải thiện các cơ hội để đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức, xác định những tiến bộ trong hoạt động, và giảm rủi ro tiềm ẩn thông qua cả hoạt động xác nhận và hoạt động tƣ vấn. Cụ thể, mục tiêu hoạt động của KTNB bao gồm: - Giúp Hội đồng quản trị, Ban lãnh đạo ngân hàng thực hiện chức năng giám sát của mình đối với quy trình báo cáo thông tin tài chính, phi tài chính nhằm đảm bảo rằng các thông tin đƣợc công bố là trung thực, rõ ràng và không bị lạm dụng. - Đánh giá tính hiệu quả của hệ thống quản lý rủi ro, hệ thống kiểm soát tài chính nội bộ.
Phát hiện và chỉ ra nguyên nhân của những sơ hở, yếu kém trong hoạt động từ đó đề xuất và tƣ vấn với Hội đồng quản trị, Ban lãnh đạo các biện pháp, giải pháp để cải tiến. - Giúp nâng cao vị thế của ngân hàng thông qua việc hoàn thiện môi trƣờng quản lý rủi ro và hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng. Chức năng của kiểm toán nội bộ - Chức năng kiểm tra: là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật để xem xét, thu thập bằng chứng, đối chiếu mức độ trung thực của các thông tin, tài 5 liệu và tính hợp pháp của việc thực hiện các nghiệp vụ hay lập các bản khai tài chính. - Chức năng đánh giá: Thông qua kiểm tra, KTNB thực hiện đánh giá tính đúng đắn, trung thực và hợp pháp của các số liệu, thông tin tài chính và phi tài chính, tài liệu đƣợc kiểm tra.
- Chức năng xác nhận: Thông qua kiểm tra, đánh giá, KTNB xác nhận thực trạng của thông tin đã kiểm tra về tính đúng đắn, trung thực và hợp pháp của các thông tin đó. - Chức năng tư vấn: Trên cơ sở những phát hiện trong quá trình kiểm tra, đánh giá, KTNB đề xuất và tƣ vấn các giải pháp để khắc phục sai sót, cải tiến và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm đảm bảo an toàn và nâng cao hiệu quả của NHTM, giúp NHTM đạt đƣợc mục tiêu của mình. - Chức năng đào tạo: KTNB với kiến thức chuyên môn và kỹ năng của mình có thể tham gia công tác đào tạo cho các bộ phận và phòng, ban trong Ngân hàng về các mảng liên quan đến công nghệ thông tin trong quản lý, thủ tục kiểm soát nội bộ và quản lý rủi ro, báo cáo tài chính, các quy định tuân thủ… Thông qua các hỗ trợ đào tạo này, KTNB sẽ góp phần tăng cƣờng năng lực của nhân sự trong một ngân hàng và giúp các vị trí thực hiện chức năng của mình một cách hiệu quả hơn. Nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ - Kiểm tra và đánh giá độ tin cậy, tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ, của công tác quản lý rủi ro, các biện pháp đảm bảo an toàn tài sản và sử dụng nguồn lực của Ngân hàng.
- Kiểm tra, thẩm định tính xác thực, độ tin cậy của thông tin quản lý, thông tin tài chính trƣớc khi trình duyệt và công bố. - Kiểm tra, đánh giá tính tuân thủ pháp luật và quy định nội bộ Ngân hàng. 6 - Kiến nghị các biện pháp sửa chữa, khắc phục sai sót, tồn tại; xử lý các sai phạm; đề xuất các biện pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ, hệ thống quản lý rủi ro Ngân hàng. Theo ủy ban giám sát an toàn hoạt động Ngân hàng Basel, nhiệm vụ của KTNB bao gồm: - Kiểm tra và đánh giá sự phù hợp và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ.
- Đánh giá việc áp dụng hiệu quả của các quy trình quản lý rủi ro cũng nhƣ phƣơng pháp đánh giá rủi ro. - Đánh giá hệ thống thông tin quản lý và hệ thống thông tin tài chính, bao gồm cả hệ thống thông tin điện tử và dịch vụ ngân hàng điện tử. - Đánh giá tính chính xác và độ tin cậy của các sổ sách kế toán và các báo cáo kế toán tài chính - quản trị. - Đánh giá các biện pháp an toàn tài sản.
- Đánh giá hệ thống đánh giá vốn của Ngân hàng trong mối tƣơng quan với các rủi ro ƣớc lƣợng của nó. - Đánh giá hiệu quả và mức độ tiết kiệm của nghiệp vụ Ngân hàng. - Thử nghiệm các giao dịch và sự vận hành của các quy trình kiểm soát cụ thể. - Xem xét các hệ thống đã đƣợc xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu của pháp luật, quy định về hành vi và sự áp dụng các chính sách và quy trình.
- Kiểm nghiệm độ tin cậy và tính đúng lúc của các báo cáo do luật quy định - Tiến hành các hoạt động điều tra đặc biệt. Nguyên tắc hoạt động và tính độc lập của kiểm toán nội bộ 1. Nguyên tắc hoạt động - Tính liên tục: Yêu cầu mỗi ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng lớn hoặc các ngân hàng có hoạt động phức tạp thiết lập một bộ phận kiểm toán 7 chính thức, hoạt động lâu dài. Và một trong những trách nhiệm và nghĩa vụ của các nhà quản trị cấp cao là phải thực hiện tất cả các biện pháp cần thiết để đảm bảo rằng ngân hàng luôn luôn có thể tin cậy vào hệ thống KTNB phù hợp với quy mô và bản chất hoạt động của mình.
- Tính độc lập: Về tổ chức, bộ phận kiểm toán nội bộ độc lập với các đơn vị, các bộ phận điều hành, tác nghiệp của NHTM. Về hoạt động, kiểm toán nội bộ độc lập với các hoạt động điều hành hàng ngày của NHTM, độc lập với các nghiệp vụ đƣợc kiểm toán. Bộ phận kiểm toán nội bộ và kiểm toán viên nội bộ đƣợc độc lập đánh giá và trình bày ý kiến trong báo cáo kiểm toán. - Tính khách quan, công bằng: Bộ phận kiểm toán nội bộ cần luôn công bằng và khách quan đƣa ra các nhận xét của mình.