Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Lý luận về Kiểm toán nội bộ trong ngân hàng thương mại. Chương 3: Thực trạng hoạt động kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội trong năm 2014 Chương 4: Giải pháp hoàn thiện kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế iv CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIỂM TOÁN NỘI BỘ 2.1 Ngân hàng thương mại và chức năng ngân hàng thương mại Ngân hàng là một sản phẩm cuả sản xuất hàng hoá, động lực quan trọng cho sự phát triển của nền sản xuất xã hội. NHTM ra đời do yêu cầu của sự phát triển của nền kinh tế: cơ sở nền sản xuất và lưu thông hàng hoá với các chức năng: thủ quỹ xã hội, trung gian thanh toán, trung gian tín dụng.
Với chức năng làm thủ quỹ cho xã hội, NHTM nhận tiền gửi của công chúng, các doanh nghiệp và các tổ chức, giữ tiền cho khách hàng của mình, đáp ứng nhu cầu rút tiền và chi tiền cho họ. Ngân hàng làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Ngân hàng làm trung gian tín dụng khi nó là cầu nối giữa người có vốn dư thừa và người có nhu cầu về vốn. Thông qua việc thực hiện các chức năng của mình nhất là chức năng trung gian tín dụng NHTM đã trở thành một bộ phận thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Sự đóng góp này thể hiện như sau: 2.2 Đặc điểm hoạt động Ngân hàng thương mại Kinh doanh ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, có lĩnh vực hoạt động rất nhạy cảm và chứa đựng nhiều rủi ro. Điều này đòi hỏi hoạt động kinh doanh ngân hàng phải thường xuyên được giám sát bởi một bên độc lập đó là kiểm toán. Những đặc điểm hoạt động kinh doanh của ngân hàng ảnh hưởng tới hoạt động KTNB là: Đặc điểm của sản phẩm ngân hàng: các sản phẩm kinh doanh của ngân hàng mang tính vô hình. Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế v Các ngân hàng thường quản lý và giám sát một khối lượng tài sản lớn trong đó chủ yếu là những tài sản tài chính, các khoản mục tiền tệ bao gồm tiền mặt và giấy tờ có giá.
Các ngân hàng tham gia vào một khối lượng các giao dịch lớn và đa dạng cả về số lượng và giá trị. Các ngân hàng thường có mạng lưới chi nhánh lớn và phân tán rộng về mặt địa lý. Các ngân hàng thường tham gia vào nhiều cam kết trong khi chưa thực hiện chuyển giao vốn thực sự, thường được gọi là các khoản mục ngoại bảng. Các ngân hàng liên tục phát triển những sản phẩm mới, công cụ tài chính mới.
Dưới sức ép của cạnh tranh, tự do hóa tài chính, sự phát triển của khoa học công nghệ. Những sản phẩm này thường có mức rủi ro cao khi sự phát triển của chúng thường đi trước những nguyên tắc kế toán và kiểm toán cũng như những quy tắc giám sát khác. Hệ thống ngân hàng là một trong những lĩnh vực bị quản lý chặt chẽ nhất trong nền kinh tế bởi các cơ quan chính phủ vì ngân hàng quản lý một số lượng lớn các tài sản của những người gửi tiền trong khi hoạt động kinh doanh của ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Hơn nữa rủi ro trong ngân hàng có tính dây chuyển, một ngân hàng đổ vỡ có thể kéo theo khủng hoảng cho toàn bộ hệ thống và để lại những hậu quả nặng nề cả về kinh tế và xã hội.
Các loại rủi ro kinh doanh ngân hàng thường gặp phải:Rủi ro tín dụng, rủi ro hối đoái, rủi ro lãi suất, rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường.2 KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Kiểm toán nội bộ và chức năng Kiểm toán nội bộ trong ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm, chức năng Kiểm toán nội bộ trong ngân hàng thương mại Như vậy, KTNB NHTM là quá trình hoạt động một cách có hệ thống, có kỷ luật và độc lập của những người có thẩm quyền trong ngân hàng nhằm kiểm tra, đánh giá về chất lượng và độ tin cậy của các thông tin tài chính và phi tài chính của ngân hàng, đồng thời đưa ra khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý rủi ro, kiểm soát nội bộ và quản trị điều hành của ngân hàng. Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế vi 2.2 Nội dung, nhiệm vụ Kiểm toán nội bộ trong ngân hàng thương mại a. Nội dung KTNB NHTM Nội dung KTNB trong NHTM bao gồm Kiểm toán hoạt động và Kiểm toán tuân thủ. Đối với Kiểm toán hoạt động, thực hiện kiểm toán các nghiệp vụ sau: - Các hình thức cấp tín dụng: Kiểm tra tính tuân thủ quy định của pháp luật, SHB trong nghiệp vụ cho vay/bảo lãnh; kiểm tra quy trình cho vay/bảo lãnh thực tế tại ngân hàng, đề xuất biện pháp để cải tiến quy trình, quy chế cho vay/bảo lãnh; kiến nghị các khách hàng được cho vay/bảo lãnh bổ sung các hồ sơ còn thiếu, hồ sơ chưa hợp lệ, chỉ ra các trường hợp chưa tuân thủ quy định về cho vay/bảo lãnh của ngân hàng; cảnh báo những rủi ro tiềm ẩn, đề xuất các biện pháp khắc phục.
- Giao dịch – ngân quỹ: kiểm tra tính tuân thủ quy định, quy chế do SHB và NHNN ban hàng về hoạt động giao dịch – ngân quỹ, đánh giá hiệu quả huy động vốn, chất lượng phục vụ khách hàng và an toàn cho tài sản cho ngân hàng và đưa ra các giải pháp khắc phục, cải thiện nghiệp vụ giao dịch – ngân quỹ góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động này. - Thanh toán quốc tế: Kiểm tra các thông tin trên hệ thống quản trị nghiệp vụ ngân hàng; kiểm tra việc tuân thủ quy định về nghiệp vụ L/C, nhờ thu, chuyển tiền, Bankdraft và kiểm tra việc thu phí. - Kế toán: Kiểm tra công tác liên quan đến Phòng kế toán/bộ phận kế toán tại đơn vị được kiểm toán; kiểm tra việc quản lý và theo dõi tài sản của ngân hàng như công cụ lao động, tài sản cố định; kiểm tra việc tuân thủ quy chế chi tiêu nội bộ của SHB (tạm ứng, thanh toán, chi tiếp khách, chi đào tạo, chi phí cho quản lý .); kiểm tra các nghiệp vụ thanh toán, chuyển tiền của Phòng kế toán (thanh toán bù trừ, thanh toán điện tử liên ngân hàng, thanh toán bù trừ liên ngân hàng); kiểm tra các chứng từ, báo cáo kế toán lập và gửi ra bên ngoài liên quan đến hoạt động của ngân hàng; kiểm tra công tác quản lý và lưu trữ chứng từ kế toán. Đối với Kiểm toán tuân thủ, thực hiện trong tất cả các cuộc kiểm toán thông qua việc phối kết hợp trong quá trình kiểm toán nghiệp vụ.
Kiểm toán tuân thủ tập trung chủ yếu vào việc kiểm tra cơ chế đảm bảo sự tuân thủ các qui định, quy chế Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế vii của pháp luật và các qui chế hoạt động, cơ chế điều hành hoạt động kinh doanh và các qui trình tác nghiệp nội bộ. Nhiệm vụ KTNB NHTM Theo Ủy ban giám sát an toàn hoạt động Ngân hàng Basel, nhiệm vụ của KTNB gồm: - Kiểm tra và đánh giá sự phụ hợp và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ. - Đánh giá việc áp dụng hiệu quả các quy trình quản lý rủi ro cũng như phương pháp đánh giá rủi ro. - Đánh giá hệ thống thông tin quản lý và hệ thống thông tin tài chính, bao gồm cả hệ thống thông tin điện tử và dịch vụ ngân hàng điện tử.
- Đánh giá tính chính xác và độ tin cậy của các sổ sách kế toán và các báo cáo kế toán tài chính – quản trị. - Đánh giá các biện pháp đảm bảo an toàn tài sản. - Đánh giá hệ thống đánh giá vốn của ngân hàng trong mối tương quan với các rủi ro ước lượng của nó. - Đánh giá hiệu quả và mức độ tiết kiệm của nghiệp vụ ngân hàng.
- Thử nghiệm các giao dịch và sự vận hành các quy trình kiểm soát cụ thể. - Xem xét các hệ thống đã được xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu của pháp luật, quy định về hành vi và sự áp dụng các chính sách và quy trình. - Kiểm nghiệm độ tin cậy và tính đúng lúc của các báo cáo do luật quy định. - Tiến hành các hoạt động điều tra đặc biệt 2.2 Tổ chức Kiểm toán nội bộ trong ngân hàng thương mại 2.1 Tổ chức bộ máy KTNB Vị trí KTNB trong NHTM: Ở Việt Nam, theo quy chế KTNB các tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định 44/2011/TT-NHNN ngày 29 tháng 12 năm 2011, bộ máy KTNB của tổ chức tín dụng được tổ chức thành hệ thống thống nhất theo ngành dọc, trực thuộc và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của BKS.
Cơ cấu tổ chức bộ máy Kiểm toán nội bộ: Cơ cấu tổ chức hợp lý nhằm bảo đảm thông suốt trong việc uỷ quyền và phân công trách nhiệm, tránh chồng chéo, Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế viii bỏ sót các nội dung quản lý, phát huy năng lực quản lý các cấp là điều kiện để xây dựng môi trường kiểm soát hiệu quả. Bộ máy KTNB nên xây dựng theo mô hình tập trung, hoạt động KTNB nên tập trung tại Hội sở chính của các ngân hàng. Tiêu chuẩn của Kiểm toán viên nội bộ: - Tiêu chuẩn quốc tế: Chuẩn mực quốc tế cho việc hành nghề chuyên nghiệp của KTNB do IIA ban hành 10/2008 và điều chỉnh, bổ sung 10/2012 quy định tiêu chuẩn cho KTVNB: +Độc lập +Khách quan +Yêu cầu về nghiệp vụ +Tính thận trọng +Phát Triển Chuyên môn - Tiêu chuẩn Việt Nam: Theo Quyết định số 44/2011/TT-NHNN của Thống đốc NHNN về Quy chế KTNB của tổ chức tín dụng thì các kiểm toán viên nội bộ phải thực hiện và duy trì các quy tắc đạo đức nghề nghiệp tối thiểu sau đây: +Tính trung thực +Khách quan +Tuyệt mật +Trách nhiệm 2.2 Tổ chức công tác KTNB Phương pháp kiểm toán nội bộ NHTM Phân loại theo chiến lược tiếp cận đối tượng kiểm toán có 2 phương pháp là phương pháp kiểm toán hệ thống và phương pháp kiểm toán cơ bản. Quy trình kiểm toán nội bộ NHTM Giai đoạn 1: Lập kế hoạch KTNB Lập kế hoạch kiểm toán hàng năm để phân bố nguồn lực và thiết lập tần suất kiểm toán một cách có hiệu quả.