CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐÈ c ơ BẢN VỀ KIỂM TOÁN, KIỂM TOÁN NỘI B ộ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1. Những vấn đề CO’ bản về kiểm toán 1. Khái niệm về kiểm toán Trên thế giới, thuật ngữ “Kiểm toán” có từ rất lâu, khi các chủ thể trong các mối quan hệ kinh tế có nhu cầu xác định tính trung thực và độ tin cậy của thông tin trong báo cáo tài chính, hệ thông kê toán và thực trạng ve tai san tiền vốn của một tố chức. Hoạt động kiêm toán là hoạt động tham đinh thong tin của kiểm toán viên.
Hoạt động kiêm toán thực sự phát triên trong nen kinh tế của hệ thống các nuớc tư bản chủ nghĩa từ thế kỷ 18,19. Ớ Việt Nam, thuật ngữ “ Kiểm toán” được sử dụng nhiều từ những năm đầu của thập kỷ 90. Cho đến nay ở Việt Nam, cũng như thế giới còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về kiểm toán. Trong giáo dục và đào tạo kiêm toán tai Cộng hoa Phap Kiem toan la việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản niên độ của một tô chức do mọt người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là kiêm toán viên, tiên hành đe khang đinh rằng những tài khoản đó phản ánh đúng đăn tình hình tài chính thực te, khong che dấu gian lận và chúng được trình theo mẫu chính thức của luật định”.
Lại có quan điểm khác cho răng kiêm toán là quá trình do các chuyên gia có trình độ nghiệp vụ thích hợp, được pháp luật thừa nhận, tiến hành để thu thập, xét đoán các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được, liên quan đến quá trình hoạt động của một đơn vị kinh tê, đê xác đinh muc đọ phu hợp giữa các thông tin có thể định lượng được với các chuẩn mực đã thiết lập và lập báo cáo kết luận về mức độ phù hợp này. Tuy nhiên quan niệm về kiểm toán được chấp nhận phổ biến hiện nay là: “ Kiểm toán là quá trình các kiểm toán viên độc lập và có năng lực tiên hành 5 thu thập và đánh giá các bằng chứng về thông tin được kiểm toán, nhằm xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập ”.[4, tr 5] Các thuật ngữ trong định nghĩa này được hiếu như sau: Các Kiểm toán viên độc lập và có năng lực: Là người có những yếu tố, kỹ năng, phẩm chất về chuyên môn nghiệp vụ mà người kiểm toán viên cần phải có, để tổ chức và thực hiện được các cuộc kiểm toán có hiệu quả. Kiểm toán viên phải là người độc lập về chuyên môn, độc lập về kinh tế và độc lập trong các mối quan hệ gia đình. Tuỳ theo nội dung và tính chất của mỗi loại kiếm toán cụ thể khác nhau, mà mức độ độc lập có thế được đòi hỏi khác nhau.
Thu thập và đánh giả các bằng chứng: Bằng chứng kiểm toán là các loại tài liệu, thông tin mà các Kiếm toán viên sử dụng đế phân tích, xem xét và đưa ra kết luận trên đó. Quá trình kiểm toán thực chất là quá trình các Kiểm toán viên áp dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm toán, đế thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán, làm cơ sở cho các ý kiến nhận xét của họ. Các thông tin được kiểm toán: Đó là những thông tin đã có sẵn nguồn bằng chứng cho kiếm toán và có căn cứ, làm cơ sở cho việc đánh giá thông tin. Thông tin được kiểm toán có thế là những thông tin được lượng hoá hoặc những thông tin có thể so sánh, đối chiếu hay kiểm tra lại được; có thể là những thông tin tài chính hoặc thông tin phi tài chính.
Các chuản mực đã được xây dựng và thiết lập: Là cơ sở, thước đo để đánh giá các thông tin trong quá trình kiểm toán. Các chuẩn mực này rất phong phú và đa dạng, tuỳ thuộc vào từng loại kiểm toán, như quy định trong các văn bản pháp quy, các tiêu chuấn định mức cho các lĩnh vực khác nhau., tuỳ từng loại kiểm toán mà sử dụng các chuẩn mực này cho phù hợp, nhưng các chuẩn mực này luôn luôn phải là các chuẩn mực có hiệu quả cho cuộc kiêm toán đó. 6 Báo cáo kết quả kiểm toán: Đây là công việc cuối cùng của một cuộc kiểm toán, thể hiện ý kiến nhận xét kết luận của Kiểm toán viên và cung cấp thông tin cho người đọc, người sử dụng về mức độ tương quan và phù hợp giữa các thông tin của một đơn vị với các chuẩn mực đã được xây dựng. Như vậy, thực chất của kiểm toán nói chung là việc kiểm tra và cho ý kiến nhận xét về mức độ phù họp của thông tin được kiểm toán so với các tiêu chuẩn, chuẩn mực của thông tin đã được thiết lập; việc kiểm tra này được thực hiện bởi người độc lập và có năng lực.
Nói cách khác, hoạt động kiêm toán là hoạt động thẩm định thông tin của kiểm toán viên. Vai trò của kiểm toán trong nền kình tế Kiểm toán ra đời và phát triển là một tất yếu khách quan do yêu câu quản lý và phục vụ cho quản lý nhằm cung cấp thông tin trung thực, tin cậy cho những người quan tâm đến đối tượng kiểm toán trên thị trường. Từ đó, có thể thấy rõ vai trò tác dụng mà kiểm toán mang lại cho nền kinh tế: Thứ nhất, kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và ổn định củng cố hoạt động tài chính, kế toán nói riêng và hoạt động của các đơn vị được kiểm toán nói chung. Thông qua kiểm toán, khi phát hiện gian lận sai sót, Kiêm toán viên uốn nắn, chỉ dẫn và đề nghị doanh nghiệp sửa chữa, tư vân giúp doanh nghiệp ổn định và kinh doanh hiệu quả.
Hoạt động kiểm toán không những củng cố hoạt động tài chính, kế toán cho doanh nghiệp nói riêng, mà còn làm lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia; đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính. Thứ hai, kiểm toán tạo niềm tin cho những người quan tâm đến đối tượng kiểm toán. Báo cáo kết quả kiểm toán cung cấp các thông tin trung thực giúp cho các cơ quan Nhà nước điều hành kinh tế vĩ mô. Các nhà quản trị doanh nghiệp, nhà đầu tư coi kiểm toán là một công cụ hỗ trợ xây dựng chiên lược hoạt động, đưa ra những quyết định đúng đắn trong quá trình quản lý, sử dụng vốn hiệu quả.
7 Thứ ba, kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý. Ngoài chức năng xác nhận thông tin tài chính, kiểm toán còn có chức năng tư vấn cho các doanh nghiệp, đơn vị được kiểm toán nhằm kinh doanh hiệu quả, hạn chế rủi ro. Chức năng này được phát huy tác dụng rất lớn ở các đơn vị được kiểm toán thường xuyên. Chức năng của kiếm toán Thông qua định nghĩa nói chung về kiểm toán, ta có thể rút ra hai chức năng cơ bản của kiểm toán như sau: Thứ nhất, chức năng cơ bản đầu tiên của kiểm toán, đó là kiểm tra và xác nhận hay còn gọi là chức năng xác minh.
Đây là chức năng được hình thành đầu tiên gắn liền với sự ra đời, hình thành và phát triển của kiểm toán. Bản thân chức năng này không ngừng phát triển mạnh mẽ, cùng với sự phát triển của xã hội loài người nói chung và kiêm toán nói riêng; đồng thời chức năng này luôn thê hiện ở các mức độ khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử nhât định. Chức năng này nhăm khăng đinh mức độ trung thực của số liệu, tính pháp lý của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các báo cáo tài chính. Thứ hai, chức năng trình bày ý kiến hay chức năng tư vấn Đây là chức năng phát sinh và hình thành sau chức năng xác minh.
Chức năng trình bày ý kiến cũng có quá trình phát sinh và phát triên riêng cua no. Cùng với quá trình phát triển của kiêm toán, chỉ một chức năng xác minh, kiểm toán không thể đáp ứng được yêu cầu của nhà quản lý. Chính từ yêu cầu thực tiễn quản lý đặt ra, đã xuất hiện chức năng tư vấn. ơ thời kỳ ban đâu khi mới hình thành, chức năng này biêu hiện dưới dạng thư quản lý.
Trong qua trình phát triển, sự biểu hiện của tư vân cũng rât khác nhau, theo từng giai đoạn lịch sử nhất định. 8 Qua hai chức năng của kiểm toán ta thấy kiêm toán nhìn nhận đánh giá một cách toàn diện cả về quá khứ và tương lai. về quá khứ, đôi với các sự kiện đã nảy sinh, kiểm toán với tư cách là người kiểm tra xác minh sự việc đã hoàn thành, nhằm đáp ứng yêu cầu của người sử dụng thông tin. Như vậy, chức năng kiểm toán xác nhận hay xác minh là chức năng hướng vê quá khứ.
Mặt khác, để đáp ứng yêu cầu của người sử dụng thông tin trong tương lai, kiểm toán lại có thêm chức năng thứ hai đó là chức năng tư vân hay chức năng trình bày ý kiến, chức năng này hướng về tương lai. Hai chức năng của kiểm toán hình thành và phát triển hoàn toàn khác nhau, tuỳ theo từng giai đoạn lịch sử nhất định. Ở thời kỳ đầu, người ta thường chỉ tập trung quan tâm đến chức năng kiểm tra xác nhận. Nhưng khi xã hội càng ngày càng phát triển, người ta càng quan tâm nhiều hơn đến chức năng tư vấn của kiếm toán, đó là việc nhìn nhận, định hướng cho một tương lai đúng đăn đê có những quvết định tối ưu và giành được thắng lợi trong cạnh tranh.
Chính vì vậy ở giai đoạn hiện nay, nhằm đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin trong tương lai, không phai chỉ riêng có chức năng của kiêm toán, mà còn có hàng loạt các tô chức khác cùng thực hiện chức năng này như: các tô chức tư vân vê thuê, tu- van về pháp luật. Plìãn loại kiểm toán Tuỳ theo các tiêu thức khác nhau, người ta có thể phân ra nhiều loại kiểm toán khác nhau: 7. Theo chủ thê thực hiện kiêm toán a. Kiêm toán Nhà nước Kiểm toán Nhà nước là hệ thống bộ máy chuyên môn của nhà nước thực hiện các chức năng kiềm toán tài sản công.
Ở thời kỳ trung đại, kiêm toán nhà nước đã xuất hiện để đối soát tài sản của vua chúa. Qua qúa trình phát triên, cho đến nay kiểm toán nhà nước ở các nước phát triên đêu thực hiện chức 9 năng kiểm toán các đcm vị ở khu vực công cộng.