CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC PHÂN TÍCH 1.1 Thủ tục phân tích và phân loại thủ tục phân tích 1.1 Thủ tục phân tích Trong quá trình thu thập các bằng chứng làm cơ sở cho việc đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính, sự hiện hữu hay tính hiệu quả trong hoạt động hay đánh giá mức độ chấp hành một quy định nào đó, kiểm toán viên phải sử dụng nhiều phương pháp kiểm toán khác nhau. Để có được những bằng chứng đầy đủ và thích hợp, kiểm toán viên phải cân nhắc sự tương quan giữa chi phí thu thập bằng chứng kiểm toán với lợi ích mà thông tin đó mang lại. Với ưu thế vượt trội về thời gian và chi phí, thủ tục phân tích đã trở thành một phương pháp kiểm toán hiện đại, cung cấp bằng chứng về hợp lý và đồng bộ của số liệu kế toán. Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 500 “Bằng chứng kiểm toán” đã nêu rõ: “Kiểm toán viên áp dụng một hoặc nhiều trong số các thủ tục kiểm toán sau để thu thập bằng chứng: kiểm tra, quan sát, phỏng vấn hoặc xác nhận, tính toán và thủ tục phân tích” Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 520 “Quy trình phân tích” đoạn 2 cũng đã nhấn mạnh: “Kiểm toán viên phải thực hiện quy trình phân tích khi lập kế hoạch và giai đoạn soát xét tổng thể về cuộc kiểm toán.
Quy trình phân tích cũng được thực hiện ở các giai đoạn khác trong quá trình kiểm toán”. Như vậy có thể nhận thấy thủ tục phân tích đóng vai trò quan trọng và được thực hiện xuyên suốt trong quá trình kiểm toán. * Định nghĩa về thủ tục phân tích như sau: Theo VSA 520: “Quy trình phân tích là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ số quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến. Như vậy, có thể nói: Phân tích là cách thức sử dụng quá trình tư duy logic để nghiên cứu và so sánh mối quan hệ đáng tin cậy giữa các số liệu, các thông tin nhằm đánh giá mức độ hợp lý của chúng trong báo cáo hay trong hoạt động của đơn vị được kiểm toán.
Hay nói cách khác phân tích là so sánh các thông tin tài chính với nhau hoặc giữa thông tin tài chính và thông tin phi tài chính dựa trên mối quan hệ hợp lý của chúng. Mọi quan hệ và biến động 4 bất thường phát hiện thông qua phân tích đều phải được tìm hiểu và giải thích nguyên nhân. Như vậy, kỹ thuật phân tích dựa trên sự hợp lý, không dựa trên sự chính xác. Thủ tục phân tích là việc phân tích số liệu, thông tin, tỷ số quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng, biến động và tìm ra mối quan hệ có mâu thuẫn với thông tin liên quan khác hoặc có chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến.
Trong thực tế, kiểm toán viên thường thiết lập các giả thiết về sự liên hệ các số liệu, ước tính số liệu kiểm tra và sau đó so sánh với số liệu của đơn vị để phát hiện các sai số hay dao động bất thường, từ đó điều tra làm rõ nguyên nhân và sử dụng các phương pháp kiểm toán để bổ sung, hổ trợ trước khi đưa ra ý kiến và kết luận của mình. Có thể kể ra sau đây ba yếu tố cấu thành nên thủ tục phân tích, đó là: Dự đoán: Kiểm toán viên có thể dự đoán số dư một tài khoản, một nghiệp vụ hoặc một loại hình nghiệp vụ hoặc một tỷ số có liên quan đến các dữ liệu tài chính và dữ liệu hoạt động. Để hình thành nên số liệu dự đoán của mình, kiểm toán viên có thể căn cứ vào các nguồn thông tin sau: - Các thông tin tài chính kỳ trước - Các số liệu dự đoán trước của đơn vị như số liệu kế hoạch, số liệu dự toán - Mối quan hệ giữa các thông tin tài chính cùng kỳ - Các thông tin liên quan đến ngành nghề kinh doanh của khách hàng - Mối quan hệ giữa các thông tin tài chính và các thông tin phi tài chính So sánh: Kiểm toán viên có thể so sánh giá trị ước tính của mình so với số liệu thực tế, với số liệu theo kế hoạch, với giá trị tương ứng một doanh nghiệp khác hoặc với mức trung bình của ngành nghề kinh doanh. Sử dụng các đánh giá chuyên môn trong điều tra và kết luận những chênh lệch phát hiện được.
Kiểm toán viên phải giải thích được những nguyên nhân dẫn đến chênh lệch giữa giá trí ước tính với số liệu thực tế. Các nguyên nhân có thể dẫn đến chênh lệch là: - Sai sót trong sổ sách của đơn vị - Kiểm toán viên quá đơn giản hóa công thức mà bỏ qua các dữ liệu quan trọng 5 - Kiểm toán viên đưa ra các giả định không chính xác, một số giả định dự kiến nhưng không xảy ra trong khi một số khác không được dự kiến lại tồn tại trong thực tế. Như vậy thủ tục phân tích là việc phân tích các số liệu, thông tin, tỷ số quan trọng, qua đó tìm ra các xu hướng, biến động và những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin có liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến. Thủ tục phân tích được thực hiện như một thử nghiệm cơ bản nhằm giảm bớt rủi phát hiện liên quan đến các cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính, kiểm tra toàn bộ báo cáo tài chính ở khâu soát xét cuối cùng của cuộc kiểm toán cũng như xác định nội dung, lịch trình và phạm vi các thủ tục kiểm toán khác.2 Phân loại thủ tục phân tích Trong quá trình thực hiện thủ tục phân tích, kiểm toán viên có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau từ đơn giản đến phức tạp đòi hỏi phải sử dụng các kỹ thuật thống kê.
Tuy nhiên, người viết chỉ giới hạn thủ tục phân tích tập trung vào 3 loại phương pháp phân tích như sau: - Phân tích xu hướng - Phân tích dự báo (phân tích tính hợp lý) - Phân tích tỷ suất Bảng 1.1 : Bảng so sánh các loại thủ tục phân tích Thủ tục phân tích Mô tả Phân tích xu hướng Sử dụng biến động năm trước để dự đoán giá trị cho năm hiện tại. Ví dụ: Xem xét doanh thu từng tháng trong một năm để từ đó đưa ra hướng dự đoán của doanh thu Phân tích dự báo Dự kiến thông tin tài chính bằng cách sử dụng dữ liệu hoạt động Ví dụ: Đối chiếu số lượng hàng tồn kho đầu kỳ, doanh thu và hàng tồn kho cuối kỳ với số lượng sản xuất, so sánh với số lượng bán để kiểm tra tính đầy đủ, hợp lý Phân tích tỷ suất Bao gồm việc tìm hiểu sự hợp lý của mối quan hệ giữa nhiều chỉ tiêu trên BCTC Ví dụ: Phân tích tỷ suất giữa chi phí bán hàng với tổng doanh 6 thu của một loại sản phẩm để thu thập các thông tin về tính hữu hiệu, tính chính xác và sự đánh giá 1.1 Phân tích xu hướng Là xem xét xu hướng biến động của số liệu theo thời gian và phát hiện ra xu hướng bất thường (tăng hoặc giảm đột biến) mà không có lý do rõ ràng. Việc đánh giá xu hướng là bất thường được xem xét trong mối quan hệ giữa các thông tin có tính chu kỳ, tính thời vụ, tác nhân ảnh hưởng bất thường. Các kỹ thuật được sử dụng trong phân tích xu hướng - Đồ thị: Số liệu được đưa lên đồ thị có thể giúp cho kiểm toán viên đánh giá đúng về xu hướng trong thời gian gần đây.
Khi kết hợp các thông tin hiện tại và phác họa trên đồ thị có thể cung cấp dự đoán về xu hướng phát triển của đối tượng phân tích và so sánh dự đoán này với thực tế. - Các tính toán đơn giản: Theo xu hướng trong quá khứ, kiểm toán viên có thể áp dụng xu hướng để dự đoán cho hiện tại. Kỹ thuật này áp dụng cho những trường hợp không có tác động lớn, đáng kể - Các tính toán phức tạp: Được sử dụng trong trường hợp xu hướng biến động là phức tạp, việc đưa ra các phép tính toán phức tạp nhằm để loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố phụ Cũng cần lưu ý : - Xu hướng trước kia có thể không liên quan gì đến xu hướng hiện tại và trong thực tế khi phân tích xu hướng có thể làm cho kiểm toán viên dễ mắc sai lầm. - Xu hướng phân tích chỉ được xem xét khi được đánh giá rằng những xu hướng phân tích trước kia thật sự có liên quan đến hiện tại.
Nói cách khác, chỉ có thể phân tích xu hướng dựa trên các số liệu có quan hệ giữa các kỳ là chặt chẽ. Nếu không sự biến động của chúng sẽ không có ý nghĩa trong phân tích. Ví dụ: Dự đoán lãi gộp dựa trên xu hướng của tổng hợp các loại sản phẩm. Phân tích về xu hướng lãi gộp hàng tháng không hiệu quả trừ khi phân tích lãi gộp theo từng nhóm sản phẩm.
Từ đó có thể xác định được một cách chi tiết sự thay đổi của các sản phẩm bán ra và ảnh hưởng của nó đến lãi gộp.2 Phân tích dự báo Phân tích dự báo là quá trình phân tích mà trong đó kiểm toán viên xây dựng công thức để đưa ra ước tính về số dư một tài khoản hay số phát sinh một loại nghiệp vụ, sau đó so sánh giá trị ước tính đó với số liệu thực tế của đơn vị để kiểm tra tính hợp lý và giải thích các khác biệt bất thường. Kiểm toán viên có thể ước tính được số dư một tài khoản hay số phát sinh một loại hình nghiệp vụ theo 1 trong 2 cách sau: - Ước tính trên cơ sở số liệu năm trước có điều chỉnh theo những thay đổi của năm nay. Ví dụ: Ước tính chi phí lương năm nay dựa trên cơ sở chi phí lương năm trước kết hợp với những điều chỉnh theo những thay đổi về tỷ lệ tiền lương, đơn giá tiền lương, số nhân viên và số giờ lao động. - Xây dựng mô hình dự đoán với các biến số.
Ví dụ: Có thể ước tính chi phí xăng của đội xe trên cơ sở số lượng xe, định mức tiêu thụ nhiên liệu trung bình trên 1 Km theo thông số kỹ thuật và số Km thực tế xe chạy.