Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam sau hơn 15 năm phát triển đã nổi lên vấn đề chênh lệch đáng kể giữa báo cáo tài chính (BCTC) do công ty niêm yết tự lập và công bố trước kiểm toán với BCTC sau khi được kiểm toán. Theo số liệu thống kê của Vietstock, tỷ lệ công ty niêm yết có sự trình bày lại (điều chỉnh lại) chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC sau kiểm toán từ năm 2012 đến năm 2014 lần lượt là 82%, 77% và 72%; riêng 6 tháng đầu năm 2015, tỷ lệ này là 52% (Minh An, 2015). Một số trường hợp có quy mô điều chỉnh lớn: Công ty cổ phần Địa Ốc Dầu Khí sau kiểm toán có khoản lỗ năm 2013 tăng thêm 156 tỷ đồng; Tổng công ty cổ phần Xây Lắp Dầu Khí Việt Nam sau kiểm toán có khoản lỗ năm 2013 giảm 487 tỷ đồng; trường hợp Công ty cổ phần Hùng Vương năm 2017 công bố BCTC kiểm toán với lợi nhuận giảm gần 309 tỷ đồng so với BCTC trước kiểm toán, khiến giá cổ phiếu giảm sàn liên tiếp trong 4 phiên giao dịch (ngày 2, 3, 6, 7 tháng 2 năm 2017).

Tác giả chỉ ra rằng ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu xem xét đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán. Các công trình có trước hoặc chỉ dừng lại ở thống kê mô tả (Mỹ Hà và Công Lý, 2014; Minh An, 2015; Vị Xuyên, 2015), hoặc mới xem xét một số nhóm nhân tố riêng lẻ mà chưa tổng hợp đầy đủ ba nhóm: đặc điểm HĐQT và cơ cấu sở hữu vốn; đặc điểm liên quan đến kiểm toán; đặc điểm kinh tế và những đặc điểm khác của công ty.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam, giai đoạn 2011–2015.

Mục tiêu cụ thể:

  • Mục tiêu thứ nhất: Xác định mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố.
  • Mục tiêu thứ hai: Khám phá và phân tích các nhân tố mới có ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Những nhân tố nào được xác định có ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố như thế nào?
  2. Ngoài các nhân tố được xác định qua kiểm định, có những nhân tố mới nào được khám phá có ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Trình bày lại BCTC sau kiểm toán và các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX).

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Các công ty niêm yết tại HOSE và HNX, loại trừ các đơn vị kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, ngân hàng.
  • Thời gian: Giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015.
  • Nội dung: Trình bày lại BCTC sau kiểm toán đối với các chỉ tiêu tài chính (tổng tài sản, vốn chủ sở hữu, doanh thu thuần, lợi nhuận trước thuế và các chỉ tiêu khác).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước mà tác giả điểm lại

Tác giả phân loại tài liệu nước ngoài theo ba hướng tiếp cận chính:

Hướng 1 – Đặc điểm HĐQT và cơ cấu sở hữu vốn:

  • Beasley (1996) tìm thấy quy mô HĐQT lớn và tỷ lệ thành viên bên ngoài thấp làm tăng khả năng gian lận BCTC tại Mỹ.
  • Chen và cộng sự (2006) xác nhận sự độc lập của HĐQT có ảnh hưởng ngược chiều đến khả năng gian lận BCTC.
  • Abbott và cộng sự (2001, 2004) tìm thấy ủy ban kiểm toán độc lập và thành viên HĐQT có chuyên môn tài chính làm giảm khả năng sai sót trọng yếu BCTC.
  • Agrawal & Chadha (2005) phát hiện công ty có giám đốc điều hành thuộc gia đình sáng lập có khả năng trình bày lại BCTC cao hơn, nhưng không tìm thấy ảnh hưởng của ủy ban kiểm toán độc lập.
  • Abdullah và cộng sự (2010) xem xét ảnh hưởng của tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn bên ngoài tại Malaysia.
  • Zhizhong và cộng sự (2011) tìm thấy tỷ lệ thành viên bên ngoài trong HĐQT có tương quan nghịch với trình bày lại BCTC tại Trung Quốc.
  • Wang & Wu (2011) xác định công ty có tỷ lệ sở hữu nhà đầu tư tổ chức thấp và cổ đông nhà nước kiểm soát có tần suất trình bày lại BCTC cao hơn.
  • COSO (2010) và Lobo & Zhao (2013) cung cấp bằng chứng bổ sung về ảnh hưởng của các đặc điểm HĐQT.
  • Aziz và cộng sự (2017) tìm thấy chủ sở hữu quản lý làm giảm khả năng trình bày lại BCTC.

Hướng 2 – Đặc điểm liên quan đến kiểm toán BCTC:

  • Lazer và cộng sự (2004) tìm thấy công ty có sự thay đổi công ty kiểm toán có khả năng trình bày lại BCTC cao hơn.
  • Kinney và cộng sự (2004) phát hiện phí dịch vụ thuế có tương quan nghịch với trình bày lại BCTC.
  • Blankley và cộng sự (2012) xác định phí kiểm toán bất thường thấp làm tăng khả năng trình bày lại BCTC trong tương lai; Lobo & Zhao (2013) cũng nhận định tương tự về phí kiểm toán.
  • Zhizhong và cộng sự (2011) và Francis và cộng sự (2012) xác nhận BCTC được kiểm toán bởi nhóm Big 4 có tương quan nghịch với trình bày lại BCTC.
  • Vivek & Myungsoo (2013) tìm thấy tương quan thuận giữa sự thay đổi công ty kiểm toán và trình bày lại BCTC.
  • Tompson & McCoy (2008) đề cập trình bày lại BCTC liên quan đến lỗi kế toán và thay đổi kiểm toán.
  • Ahmadabadi và cộng sự (2014) kiểm tra thêm nhân tố liên quan đến đặc điểm kiểm toán tại Iran.

Hướng 3 – Đặc điểm kinh tế và những đặc điểm khác của công ty:

  • Kinney & McDaniel (1989) phát hiện công ty quy mô nhỏ, lợi nhuận thấp có khả năng trình bày lại BCTC cao hơn tại Mỹ.
  • Ahmed & Goodwin (2007) xác nhận công ty nhỏ, giá trị thị trường/sổ sách thấp có tần suất trình bày lại lợi nhuận cao hơn tại Úc.
  • Rezaei & Mahmoudi (2013) tìm thấy tương quan nghịch giữa quy mô công ty và trình bày lại BCTC, tương quan thuận giữa lỗ năm trước và trình bày lại BCTC ở năm hiện tại tại Iran.
  • Richardson và cộng sự (2002) tìm thấy công ty tăng trưởng cao có xu hướng trình bày sai lợi nhuận.
  • Wang & Wu (2011) xác nhận công ty có khả năng sinh lời yếu và đòn bẩy tài chính cao có tần suất trình bày lại BCTC cao hơn.
  • Loebbecke và cộng sự (1989), Bell và cộng sự (1991) cho rằng tốc độ tăng trưởng nhanh tạo động cơ cho nhà quản lý trình bày sai BCTC.
  • GAO (2007) và COSO (2010) cung cấp thêm bằng chứng về ảnh hưởng của đặc điểm công ty.

Nghiên cứu trong nước:

  • Trần Thị Giang Tân và Trương Thùy Dương (2016) tìm thấy quy mô HĐQT, tỷ lệ thành viên không điều hành, thành viên có quan hệ gia đình, thành viên có chuyên môn tài chính và nhiệm kỳ HĐQT ảnh hưởng đến sai sót trọng yếu trên BCTC.
  • Nguyễn Công Phương và Lâm Xuân Đào (2016) tìm thấy sự kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT và giám đốc, số công ty con ảnh hưởng đến sai phạm trên BCTC; nhưng không tìm thấy ảnh hưởng của sự độc lập HĐQT và đòn bẩy tài chính.
  • Nguyễn Trọng Nguyên (2015) phát hiện sự độc lập HĐQT, thành viên có chuyên môn tài chính và số cuộc họp HĐQT ảnh hưởng đến chất lượng BCTC.
  • Nguyễn Văn Hương (2016) tìm thấy áp lực lợi nhuận làm tăng khả năng trình bày lại BCTC sau kiểm toán.
  • Nguyễn Việt và Nguyễn Văn Hương (2017) tìm thấy kinh doanh thua lỗ năm trước, tỷ số nợ cao, áp lực lợi nhuận và giá trị thị trường/sổ sách thấp làm tăng khả năng điều chỉnh lại chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC sau kiểm toán.
  • Bùi Thị Mai Hoài và Nguyễn Thị Tuyết Hoa (2015) xem xét hành vi điều chỉnh thu nhập nhằm giảm thuế.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tác giả nhận thấy (1) chưa có nghiên cứu trong nước nào xem xét đồng thời cả ba nhóm nhân tố (đặc điểm HĐQT và cơ cấu sở hữu vốn; đặc điểm kiểm toán; đặc điểm kinh tế và đặc điểm khác) trong cùng một mô hình; (2) Hiệp hội Kế toán Mỹ (AAA, 2014) cũng đặt câu hỏi về mô hình nghiên cứu nào có thể xác định đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng; (3) kết quả nghiên cứu có thể khác nhau giữa các quốc gia và giai đoạn (Dechow và cộng sự, 2011; Abdullah và cộng sự, 2010), đặt ra yêu cầu nghiên cứu cụ thể cho bối cảnh Việt Nam là nền kinh tế mới nổi.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Lý thuyết và khung phân tích

Luận án sử dụng ba lý thuyết nền tảng:

Lý thuyết đại diện (Agency Theory): Ross (1973) khởi xướng, được phát triển bởi Jensen & Meckling (1976). Lý thuyết này đặt nền tảng cho việc giải thích xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và cổ đông, từ đó dẫn đến hành vi thao túng thông tin trên BCTC. Theo Fama & Jensen (1983), HĐQT và hệ thống kiểm toán là công cụ giám sát nhà quản lý. Eisenhardt (1989) bổ sung vai trò của hệ thống thông tin trong hạn chế chủ nghĩa cơ hội của người đại diện. Lý thuyết đại diện được xác định là lý thuyết chủ đạo trong việc phát triển các giả thuyết nghiên cứu của luận án.

Lý thuyết cổ đông (Stakeholder Theory): Làm nền tảng cho việc xem xét nghĩa vụ cung cấp thông tin tài chính trung thực của công ty niêm yết đối với các bên liên quan, bao gồm nhà đầu tư, ngân hàng, cơ quan quản lý và công chúng.

Lý thuyết tam giác gian lận (Fraud Triangle Theory): Được sử dụng để giải thích nguyên nhân gian lận BCTC thông qua ba yếu tố: áp lực, cơ hội và thái độ biện hộ của người vi phạm. Lý thuyết này hỗ trợ cho việc xác định các nhân tố thuộc nhóm đặc điểm kinh tế (áp lực lợi nhuận, tình hình thua lỗ) và nhóm đặc điểm kiểm soát (yếu điểm hệ thống kiểm soát nội bộ).

Khái niệm trình bày lại BCTC được tác giả xác định theo định nghĩa của FASB (sửa đổi BCTC đã phát hành do có lỗi kế toán) và GAO (2007), kết hợp với quy định tại Thông tư TT200/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính và Luật Kế toán số 88/2015/QH13.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp gắn kết, trong đó định lượng là chính, định tính là phụ gắn kết bổ trợ.

Phần định lượng (chính):

  • Thiết kế mô hình: Mô hình hồi quy binary logistic, biến phụ thuộc đo lường nhị phân (có hoặc không có trình bày lại BCTC sau kiểm toán).
  • Mẫu: Thu thập toàn bộ BCTC năm chưa kiểm toán và BCTC năm được kiểm toán của tất cả công ty niêm yết tại HOSE và HNX giai đoạn 2011–2015, loại trừ lĩnh vực tài chính, ngân hàng; tổng số 2.412 BCTC được sử dụng.
  • Dữ liệu tài chính thứ cấp: Thu thập từ BCTC năm chưa kiểm toán (BCTC quý 4 lũy kế cả năm) và BCTC năm được kiểm toán do chính công ty niêm yết công bố trên trang web của công ty, HOSE và HNX; dữ liệu giá trị thị trường lấy từ bảng giá đóng cửa ngày giao dịch cuối năm do HOSE và HNX công bố.
  • Dữ liệu phi tài chính thứ cấp: Thu thập từ báo cáo thường niên hàng năm của các công ty niêm yết, gồm các thông tin về đặc điểm HĐQT và đặc điểm khác của công ty.
  • Phân tích dữ liệu: Hồi quy binary logistic; kiểm định Wald; kiểm định mức độ phù hợp, mức độ giải thích và mức độ dự báo của mô hình.

Phần định tính (phụ):

  • Phương pháp: Nghiên cứu tình huống và phỏng vấn bán cấu trúc.
  • Đối tượng phỏng vấn: Kế toán và nhà quản lý của các công ty niêm yết thuộc nhiều lĩnh vực ngành nghề kinh doanh.
  • Khảo sát ý kiến: Kiểm toán viên (KTV) thực hiện kiểm toán BCTC của các công ty niêm yết.
  • Mục đích: Khám phá thêm những nhân tố mới hoặc những nhân tố không thể kiểm chứng bằng phương pháp thực nghiệm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về trình bày lại BCTC và các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC trong các công ty niêm yết từ các nghiên cứu trước

Chương này hệ thống hóa các nguyên nhân dẫn đến trình bày lại BCTC theo các nghiên cứu quốc tế: Plumlee & Yohn (2010) xác định bốn nguyên nhân gồm lỗi hệ thống nội bộ, cố ý thao túng, giao dịch phức tạp và đặc điểm chuẩn mực kế toán; GAO (2007) phân biệt nhầm lẫn và gian lận; DeZoort (2011) bổ sung sự phức tạp của chuẩn mực, yếu kém kiểm soát, áp dụng mức trọng yếu rộng, thiếu minh bạch và gian lận; Tompson & McCoy (2008) gắn trình bày lại với lỗi kế toán, thay đổi phương pháp kế toán, các hoạt động bị ngừng và thay đổi các ước tính kế toán.

Chương này phân loại tài liệu theo ba hướng tiếp cận như đã trình bày ở mục tổng quan tài liệu, đồng thời chỉ rõ khoảng cách giữa hướng tiếp cận của các nghiên cứu về chất lượng kiểm toán (theo khung của Defond & Zhang, 2014) với hướng nghiên cứu trực tiếp về trình bày lại BCTC. Phần cuối chương xác định khe hổng nghiên cứu và nêu câu hỏi của AAA (2014) về sự thiếu vắng một mô hình tổng hợp đầy đủ các nhóm nhân tố.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương này trình bày định nghĩa BCTC theo GAAP, Luật Kế toán số 88/2015/QH13 và Thông tư TT200/2014/TT-BTC; định nghĩa trình bày lại BCTC theo FASB, GAO (2007) và từ điển tài chính; ba lý thuyết nền tảng (đại diện, cổ đông, tam giác gian lận); và tổng hợp các nhân tố được suy ra từ cơ sở lý thuyết kết hợp với kết quả các nghiên cứu trước — được tổng hợp tại Bảng 2.1. Phần cuối chương trình bày mô hình nghiên cứu thực nghiệm (Sơ đồ 2.1), xác định biến phụ thuộc, các biến độc lập thuộc ba nhóm nhân tố, và mô hình hồi quy binary logistic.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết thiết kế nghiên cứu hỗn hợp gắn kết qua các sơ đồ: phương pháp nghiên cứu tổng thể (Sơ đồ 3.1), thiết kế nghiên cứu (Sơ đồ 3.2), thiết kế nghiên cứu định lượng (Sơ đồ 3.3), các bước thực hiện nghiên cứu định lượng (Sơ đồ 3.4) và trình tự thực hiện nghiên cứu định tính (Sơ đồ 3.5).

Các bảng kê trình bày chi tiết: số lượng công ty niêm yết có BCTC được thu thập (Bảng 3.3), quy mô mẫu dùng cho hồi quy binary logistic (Bảng 3.4), mô tả các khoản mục BCTC được thu thập và nguồn dữ liệu (Bảng 3.5), mô tả dữ liệu đo lường cho các biến và nguồn thu thập (Bảng 3.6), mô tả và đo lường biến phụ thuộc (Bảng 3.7), mô tả và đo lường các biến độc lập thang đo tỷ lệ (Bảng 3.8), mô tả và gán thang đo các biến độc lập nhị phân (Bảng 3.9). Danh sách kế toán, nhà quản lý được phỏng vấn (Bảng 3.10) và quy mô mẫu khảo sát KTV (Bảng 3.11) được trình bày ở cuối chương.

Phần phát triển giả thuyết nghiên cứu lập luận về chiều hướng kỳ vọng của từng nhân tố dựa trên các lý thuyết nền và kết quả các nghiên cứu trước; tổng hợp giả thuyết được trình bày ở Bảng 3.1.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Phần thống kê thực trạng: Xu hướng trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam giai đoạn 2011–2015 được minh họa qua Hình 4.1. Các chỉ tiêu BCTC thường được trình bày lại sau kiểm toán được thống kê tại Hình 4.2 và Bảng 4.1. Bảng 4.2 tổng hợp quy mô số tiền trình bày lại ở chỉ tiêu lợi nhuận của các công ty niêm yết giai đoạn 2011–2015. Bảng 4.3 phân tổ trình bày lại BCTC theo ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh.

Phần định lượng: Bảng 4.4 trình bày thống kê mô tả các biến trong mô hình. Bảng 4.5 tóm tắt xử lý trường hợp. Bảng 4.6 kiểm tra tổng quát hệ số mô hình. Bảng 4.7 trình bày tóm tắt mô hình (Model Summary). Bảng 4.8 là bảng phân loại. Bảng 4.9 và 4.10 trình bày các thông số biến trong mô hình hồi quy binary logistic và tên các biến trong phương trình. Bảng 4.11 tổng hợp vai trò ảnh hưởng của các nhân tố. Bảng 4.13 tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra trình bày lại BCTC sau kiểm toán từ kết quả hồi quy binary logistic.

Phần định tính: Bảng 4.12 tổng hợp kết quả khảo sát ý kiến KTV; kết quả phỏng vấn kế toán và nhà quản lý công ty niêm yết được xử lý theo phương pháp phân tích chủ đề.

Phần thảo luận: So sánh kết quả với các phát hiện của các nghiên cứu trước, chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt.

Chương 5: Kết luận, các hàm ý và kiến nghị

Chương này trình bày kết luận theo ba nhóm nhân tố đã được kiểm định; các hàm ý liên quan đến quản trị công ty, cơ cấu sở hữu vốn và cơ sở nhận diện đặc điểm công ty có khả năng xảy ra trình bày lại BCTC; tóm tắt những đóng góp và hạn chế của luận án; kiến nghị đối với bốn nhóm đối tượng (cơ quan quản lý nhà nước, công ty kiểm toán độc lập, người sử dụng BCTC, công ty niêm yết). Bảng 5.1 tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu được chấp nhận.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt học thuật

Tác giả trình bày bốn đóng góp học thuật:

  1. Hướng tiếp cận đo lường trực tiếp: Luận án tiếp cận theo hướng "có hay không việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán" — biến phụ thuộc được đo lường trực tiếp và phân tích bằng hồi quy logistic — tạo cơ sở phương pháp cho các nghiên cứu sau về công bố thông tin trên BCTC (sai sót trọng yếu, quản lý lợi nhuận, chất lượng BCTC) của các công ty niêm yết ở Việt Nam.

  2. Quy mô dữ liệu tổng thể: Sử dụng 2.412 BCTC, bao phủ toàn bộ công ty niêm yết tại HOSE và HNX (ngoại trừ lĩnh vực tài chính, ngân hàng) giai đoạn 2011–2015, phản ánh bản chất vấn đề nghiên cứu của tổng thể.

  3. Mô hình nhân tố tổng hợp: 11 nhân tố được xác định thông qua kiểm định hồi quy, 1 nhân tố được xác định bằng phương pháp thống kê, và 3 nhân tố mới được khám phá qua nghiên cứu định tính — từ đó xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam.

  4. Hàm ý quản trị: Kết quả cung cấp hàm ý liên quan đến quản trị công ty, cơ cấu sở hữu vốn và cơ sở nhận diện đặc điểm công ty có khả năng xảy ra trình bày lại BCTC sau kiểm toán.

Đóng góp về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng về thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng, giúp:

  • Cơ quan quản lý TTCK nhận diện thực trạng và có cơ sở xây dựng các giải pháp làm giảm khả năng xảy ra trình bày lại BCTC trong các công ty niêm yết.
  • Nhà quản lý công ty niêm yết xác định nguyên nhân và có hướng khắc phục trong quản trị công ty, góp phần tăng niềm tin của người sử dụng BCTC.
  • Nhà đầu tư chứng khoán, ngân hàng và người sử dụng BCTC có cơ sở nhận diện BCTC của công ty có khả năng trình bày lại sau kiểm toán, thận trọng hơn khi sử dụng thông tin trên BCTC chưa được kiểm toán.
  • KTV có cơ sở nhận diện đặc điểm công ty có khả năng trình bày lại BCTC, từ đó lập kế hoạch kiểm toán phù hợp.

Kiến nghị

Tác giả đưa ra kiến nghị đối với bốn nhóm: (1) cơ quan quản lý nhà nước (Ủy ban chứng khoán nhà nước và cơ quan liên quan), (2) công ty kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán BCTC các công ty niêm yết, (3) các đối tượng sử dụng BCTC, và (4) công ty niêm yết — nhằm giảm thiểu khả năng xảy ra trình bày lại BCTC sau kiểm toán.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Luận án ghi nhận một số hạn chế:

  • Phạm vi nghiên cứu chỉ bao gồm giai đoạn 2011–2015, loại trừ các đơn vị trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng; do đó kết quả không trực tiếp khái quát hóa cho nhóm đơn vị này hoặc các giai đoạn khác.
  • Một số nhân tố được khám phá qua nghiên cứu định tính chưa thể kiểm chứng bằng phương pháp thực nghiệm do hạn chế dữ liệu; đây là hướng để các nghiên cứu tiếp theo tiếp tục phát triển.
  • Sự khác nhau về kết quả so với các nghiên cứu nước ngoài phản ánh đặc thù môi trường kinh doanh Việt Nam; tuy nhiên cũng không loại trừ ảnh hưởng của giới hạn mẫu và giai đoạn nghiên cứu đến độ ổn định của các hệ số hồi quy.

Tác giả gợi mở các hướng nghiên cứu tiếp theo gồm: mở rộng giai đoạn nghiên cứu, bổ sung các nhân tố mới được khám phá bằng phương pháp định lượng, và nghiên cứu so sánh với các nền kinh tế mới nổi khác trong khu vực.


Giá trị tham khảo

Luận án phù hợp làm tài liệu tham khảo cho:

  • Nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán, Tài chính doanh nghiệp — đặc biệt ở các phần về khung lý thuyết đại diện, lý thuyết tam giác gian lận ứng dụng trong nghiên cứu BCTC; thiết kế nghiên cứu hỗn hợp gắn kết; và mô hình hồi quy binary logistic đo lường biến nhị phân trong kế toán.
  • Người làm chính sách và cơ quan quản lý thị trường chứng khoán — phần thống kê thực trạng trình bày lại BCTC theo giai đoạn, theo ngành và theo chỉ tiêu tài chính (Chương 4) cung cấp dữ liệu hữu ích cho việc xây dựng cơ chế giám sát và yêu cầu công bố thông tin.
  • Công ty kiểm toán độc lập và KTV — phần xác định các nhân tố liên quan đến kiểm toán (quy mô công ty kiểm toán, phí kiểm toán, thay đổi công ty kiểm toán) và phần kiến nghị trong Chương 5 có giá trị thực hành cho việc đánh giá rủi ro và lập kế hoạch kiểm toán.
  • Nhà đầu tư và người phân tích tài chính — phần nhận diện đặc điểm công ty có khả năng xảy ra trình bày lại BCTC giúp thận trọng hơn khi phân tích BCTC chưa kiểm toán của các công ty niêm yết.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định biến phụ thuộc "trình bày lại BCTC" như thế nào?

Trình bày lại BCTC được xác định là trường hợp BCTC sau kiểm toán có sự thay đổi số tiền ở một trong các chỉ tiêu: tổng tài sản, vốn chủ sở hữu, doanh thu thuần, lợi nhuận trước thuế hoặc các chỉ tiêu khác, so với BCTC quý 4 lũy kế cả năm mà công ty niêm yết tự lập và công bố trước kiểm toán. Biến phụ thuộc được đo lường nhị phân: có (1) hoặc không (0) xảy ra trình bày lại.

2. Tại sao nghiên cứu loại trừ các đơn vị trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng?

Văn bản nêu rõ phạm vi nghiên cứu "loại trừ những đơn vị kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, ngân hàng" nhưng không giải thích chi tiết lý do trong phần văn bản được cung cấp. Đây là thông lệ phổ biến trong các nghiên cứu kế toán quốc tế do đặc thù cấu trúc BCTC và hệ thống quy định riêng của nhóm đơn vị này làm cho việc so sánh trực tiếp với các công ty phi tài chính không tương đồng.

3. Tỷ lệ trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam giai đoạn 2011–2015 ở mức nào?

Theo số liệu Vietstock được tác giả trích dẫn (Minh An, 2015), tỷ lệ công ty niêm yết có sự trình bày lại chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC sau kiểm toán năm 2012 là 82%, năm 2013 là 77%, năm 2014 là 72%, và riêng 6 tháng đầu năm 2015 là 52%.

4. Nghiên cứu tìm thấy bao nhiêu nhân tố có ảnh hưởng đến trình bày lại BCTC sau kiểm toán và thông qua phương pháp nào?

Luận án xác định tổng cộng 15 nhân tố: 11 nhân tố được xác định thông qua kiểm định hồi quy binary logistic, 1 nhân tố được xác định bằng phương pháp thống kê, và 3 nhân tố mới được khám phá thông qua nghiên cứu định tính (phỏng vấn bán cấu trúc và khảo sát KTV).

5. Luận án sử dụng bao nhiêu BCTC làm dữ liệu và thu thập từ nguồn nào?

Luận án sử dụng 2.412 BCTC — bao gồm cặp BCTC năm chưa kiểm toán và BCTC năm được kiểm toán cho từng công ty, từng năm, giai đoạn 2011–2015. Dữ liệu được thu thập từ trang web của chính các công ty niêm yết, trang web của HOSE và HNX, và báo cáo thường niên hàng năm của các công ty. Dữ liệu giá trị thị trường lấy từ bảng giá đóng cửa ngày giao dịch cuối năm do HOSE và HNX công bố.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Hương (2019) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam giai đoạn 2011–2015, trong bối cảnh tỷ lệ điều chỉnh lại chỉ tiêu lợi nhuận sau kiểm toán dao động từ 72% đến 82% trong các năm nghiên cứu. Bằng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp gắn kết — trong đó hồi quy binary logistic trên 2.412 BCTC là phương pháp chính, kết hợp với phỏng vấn bán cấu trúc và khảo sát KTV là phương pháp phụ — luận án xác định được 11 nhân tố qua kiểm định, 1 nhân tố qua thống kê và 3 nhân tố mới qua nghiên cứu định tính. Bộ khung lý thuyết kết hợp lý thuyết đại diện, lý thuyết cổ đông và lý thuyết tam giác gian lận tạo nền tảng cho mô hình nghiên cứu thực nghiệm bao quát ba nhóm nhân tố: đặc điểm HĐQT và cơ cấu sở hữu vốn; đặc điểm liên quan đến kiểm toán; và đặc điểm kinh tế cùng các đặc điểm khác của công ty. Kết quả cung cấp căn cứ thực nghiệm cho cơ quan quản lý, KTV, nhà đầu tư và nhà quản lý công ty niêm yết trong việc nhận diện, dự báo và hạn chế việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán tại Việt Nam.