phần mở đầu, kết luận chung, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 5 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan các nghiên cứu trƣớc. Chƣơng này trình bày tổng quan các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đã thực hiện trƣớc đây liên quan đến đề tài nghiên cứu, trên cơ sở, nêu lên những nhận xét về những điểm làm đƣợc, chƣa đƣợc của những nghiên cứu này, từ đó xác định khe hổng nghiên cứu của đề tài. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết. Chƣơng này trình bày các khái niệm có liên quan đến nghiên cứu nhƣ DNNVV, CLBCTC, thuê ngoài DVKT.
Bên cạnh đó, chƣơng này cũng trình bày các lý thuyết nền có liên quan đến nghiên cứu và xác định mô hình nghiên cứu đề xuất của đề tài. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng này trình bày về PPNC, mô hình nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu và các kỹ thuật phân tích dữ liệu. Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận.
Chƣơng này tác giả trình bày kết quả nghiên cứu về các nhân tố cũng nhƣ mức độ tác động của các nhân tố đến CLBCTC của các DNNVV có sử dụng DVKT tại TP.HCM và bàn luận kết quả của nghiên cứu này. Chƣơng 5: Kết luận và hàm ý thực tiễn quản lý. Chƣơng này đƣa ra các kết luận và đề xuất một số hàm ý thực tiễn quản lý đối với các đối tƣợng có liên quan đến 5 việc lập, trình bày, sử dụng và quản lý CLBCTC của các DNNVV có sử dụng DVKT. 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC Phần này tác giả trình bày các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc liên quan đến đề tài nghiên cứu nhƣ các nghiên cứu về đo lƣờng CLBCTC của doanh nghiệp, các nhân tố ảnh hƣởng đến CLBCTC và ảnh hƣởng của thuê ngoài DVKT đến CLBCTC của các doanh nghiệp.
Các nghiên cứu nƣớc ngoài 1.1 Nghiên cứu về đo lƣờng CLBCTC doanh nghiệp Mục đích của BCTC là cung cấp các thông tin hữu ích cho việc đƣa ra quyết định. BCTC không chỉ là kết quả cuối cùng, chất lƣợng của quá trình kinh doanh phụ thuộc vào từng phần của nó, bao gồm cả các giao dịch của doanh nghiệp, thông tin về sự lựa chọn, các phƣơng pháp kế toán đƣợc sử dụng và tác động của các phƣơng pháp này. Hai quan điểm chung đƣợc sử dụng rộng rãi trong việc đánh giá CLBCTC đó là quan điểm dựa trên nhu cầu của ngƣời sử dụng thông tin và quan điểm tập trung vào việc bảo vệ cho các nhà đầu tƣ và cổ đông. Với quan điểm thứ nhất, CLBCTC đƣợc xác định dựa trên cơ sở của tính hữu ích của thông tin đối với ngƣời sử dụng thông tin đó và quan điểm thứ hai CLBCTC đƣợc định nghĩa chủ yếu liên quan việc cung cấp cho cổ đông với “công bố đầy đủ và hợp lý”.
Francis cùng cộng sự (2005) tranh luận rằng chất lƣợng lợi nhuận là một khái niệm rộng bao gồm cả chất lƣợng kế toán và CLBCTC. Theo nghiên cứu của Dechow và các cộng sự (2010) nghiên cứu tổng hợp các nghiên cứu về CLLN cho rằng CLLN càng cao đem lại nhiều thông tin về tình hình tài chính của một công ty mà có liên quan đến việc ra quyết định cụ thể ảnh hƣởng đến việc sử dụng thông tin của ngƣời đƣa ra quyết định. Nói cách khác CLLN càng cao sẽ giúp đƣa ra quyết định tốt hơn dựa trên tình hình tài chính của công ty. Qua đó có thể thấy CLLN rất quan trọng khi đánh giá về CLBCTC của một công ty.
Theo Choi và Pae (2011) trong một nghiên cứu về mối quan hệ giữa đạo đức kinh doanh và CLBCTC tại Hàn Quốc đã đo lƣờng CLBCTC theo 3 cách đó là QTLN (sử dụng biến kế toán dồn tích), kế toán thận trọng và tính chính xác của dồn 7 tích về dòng tiền hoạt động trong tƣơng lai. Kết quả cho thấy các doanh nghiệp thể hiện sự cam kết cao hơn sẽ có CLBCTC cao hơn. Những doanh nghiệp này cùng cho thấy hạn chế việc QTLN thì BCTC nhất quán hơn, và dự báo dòng tiền chính xác hơn. Ngoài ra, các doanh nghiệp này còn ảnh hƣởng đến việc duy trì CLBCTC trong tƣơng lai.
Theo Bauwhede và cộng sự (2015) việc đo lƣờng CLBCTC theo CLLN thông qua việc sử dụng mô hình đo lƣờng CLLN dựa trên biến kế toán dồn tích có hai ƣu điểm gồm: CLLN có khả năng dự báo dòng tiền trong tƣơng lai tốt hơn, là chìa khóa để đánh giá rủi ro vỡ nợ của doanh nghiệp mà các chủ nợ thƣờng xem xét trƣớc khi ký kết các hợp đồng tín dụng. Nhƣ vậy, để đo lƣờng CLBCTC có thể chia làm 2 nhóm phƣơng pháp chính: đo lƣờng theo đặc điểm chất lƣợng và đo lƣờng theo CLLN. Nhƣợc điểm của CLBCTC đo lƣờng theo đặc điểm chất lƣợng là việc đánh giá CLBCTC sẽ phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của ngƣời đánh giá, dẫn đến tình trạng kết quả nghiên cứu sẽ không phản ánh đúng thực trạng chất lƣợng của BCTC mà các công ty đã công bố. Còn theo phƣơng pháp đánh dựa trên CLLN, các dữ liệu phục vụ cho việc phân tích này dựa trên thông tin sẵn có trong BCTC và báo cáo thƣờng niên của các công ty (dữ liệu thứ cấp) và việc đánh giá CLBCTC đƣợc thực hiện trực tiếp trên các dữ liệu sẵn có này, chính điều này góp phần làm cho dữ liệu đáng tin cậy hơn.
Ngoài ra, đo lƣờng CLBCTC theo CLLN cũng rất hữu ích vì dựa trên quan điểm ngƣời sử dụng BCTC, các nhà đầu tƣ, chủ nợ và các nhà soạn thảo chuẩn mực kế toán. Để lƣợng hóa CLBCTC từ việc đo lƣờng CLBCTC theo CLLN, các tác giả trƣớc đây nhƣ Bauwhede (2015); Choi và Pae (2011) thƣờng sử dụng 2 nhóm mô hình đó là mô hình biến kế toán dồn tích và mô hình giá trị thích hợp của TTKT.2 Các nhân tố ảnh hƣởng đến CLBCTC doanh nghiệp Việc nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến CLBCTC doanh nghiệp đƣợc nhiều tác giả lựa chọn thực hiện. Nghiên cứu của Houqe và cộng sự (2010) thực hiện nghiên cứu nhằm mục tiêu xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng báo cáo tài chính, bằng phƣơng 8 pháp nghiên cứu định lƣợng, Houqe và cộng sự (2010) đã sử dụng mẫu nghiên cứu gồm 648 quan sát là các doanh nghiệp ở Bangladesh trong giai đoạn từ 2001 – 2006. Nghiên cứu này cho kết quả các nhân tố ảnh hƣởng thuận chiều đến CLBCTC của các doanh nghiệp gồm QSH bởi nhà nƣớc, QSH bởi nhà quản lý, QSH bởi tổ chức, QSH của gia đình, quy mô hội đồng quản trị, loại công ty kiểm toán.
Nghiên cứu của Klai, N. (2011) thực hiện nghiên cứu nhằm mục tiêu kiểm định về sự ảnh hƣởng của cơ chế quản trị tác động đến CLBCTC của các công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Tunis giai đoạn 1997-2007. Bằng phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng, kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố ảnh hƣởng cùng chiều với CLBCTC gồm có quy mô ban giám đốc, tỷ lệ thành viên ban giám đốc độc lập, tính kiêm nhiệm của CEO, QSH bởi tổ chức. Các nhân tố ảnh hƣởng ngƣợc chiều với CLBCTC gồm quy mô công ty, triển vọng phát triển, QSH bởi nƣớc ngoài, QSH của các thành viên trong gia đình, sự tập trung QSH.
Chalaki và cộng sự (2012) cũng thực hiện nghiên cứu nhằm mục tiêu kiểm định các đặc điểm quản trị công ty ảnh hƣởng đến CLBCTC. Nhằm giải quyết mục tiêu nghiên cứu đặt ra, các tác giả đã sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng, dữ liệu nghiên cứu đƣợc thu thập từ 2003-2011 của 136 công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Tehran. Kết quả nghiên cứu cho thấy không có mối quan hệ giữa các thuộc tính quản trị doanh nghiệp bao gồm quy mô hội đồng quản trị, tính độc lập của hội đồng quản trị, sự tập trung QSH, QSH tổ chức và CLBCTC. Ngoài ra, không có bằng chứng nào đƣợc tìm thấy để hỗ trợ mối quan hệ đáng kể giữa các biến kiểm soát (quy mô kiểm toán, quy mô doanh nghiệp và tuổi công ty) đến CLBCTC.
Tiếp đó, Hassan (2013) đã thực hiện một đề tài nhằm nghiên cứu, kiểm tra các đặc điểm quản lý ảnh hƣởng đến CLBCTC của 32 công ty sản xuất niêm yết ở Nigeria trong giai đoạn 2007-2011. Theo đó, Hassan (2013) sử dụng mô hình của Dechow và Dichev (2002) để đo lƣờng CLBCTC, kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố ảnh hƣởng đến CLBCTC bao gồm đòn bẩy tài chính, tính độc lập của ban 9 giám đốc, quy mô ban kiểm soát, tỷ lệ sở hữu của tổ chức, tính độc lập của ban kiểm soát, số cuộc họp của hội đồng quản trị, sự tập trung QSH.3 Các nghiên cứu về sử dụng dịch vụ thuê ngoài kế toán ảnh hƣởng đến CLBCTC doanh nghiệp Barrar và cộng sự (2002) với nghiên cứu “The efficiency of accounting service provision. Business Process Management Journal’’. Nghiên cứu đƣợc thực hiện tại các doanh nghiệp ở Anh Và Ý, bằng cách sử dụng phƣơng pháp phân tích số liệu (data envelopment analysis _ DEA) nhằm mục đích so sánh hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp có thuê ngoài DVKT và các doanh nghiệp tự thực hiện công việc kế toán.
Bên cạnh đó nghiên cứu cũng xem xét ảnh hƣởng của nhân tố quy mô và trình độ chuyên môn để đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty khi lựa chọn thuê ngoài hay tự thực hiện công việc kế toán. Kết quả nghiên cứu cho thấy ở các DNNVV việc thuê ngoài DVKT tạo nhiều lợi thế vì vậy giúp gia tăng hiệu quả hoạt động. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trình độ chuyên môn kế toán viên nội bộ chƣa đáp ứng ứng đƣợc nhu cầu, việc thuê ngoài DVKT sẽ giúp các DNNVV quản lý công tác kế toán hiệu quả hơn so với việc tự tổ chức kế toán tại doanh nghiệp. Ngoài ra việc sử dụng DVKT giúp các DNNVV tiết kiệm chi phí, tạo thuận lợi cho quá trình cạnh tranh.
Henrik Höglund và Dennis Sundvik (2016) nghiên cứu sự ảnh hƣởng của việc thuê ngoài các DVKT đến CLBCTC ở các DNNVV ở Phần Lan. Nghiên cứu khảo sát 1386 DNNVV ở Phần Lan giai đoạn 2010-2013, trong đó có 78% DNNVV ở Phần Lan có thuê ngoài DVKT để thực hiện các công việc kế toán. Ở nghiên cứu này CLBCTC đƣợc đo lƣờng bằng cách nhận diện các hành vi QTLN thông qua mô hình dồn tích của Jones (1991). Kết quả là thuê ngoài DVKT để thực hiện các nhiệm vụ kế toán nhƣ chuẩn bị BCTC theo luật định thì thời gian thuê ngoài DVKT càng dài càng làm tăng chất lƣợng báo cáo.