chương 1 Nội dung chương trình bày lý do nghiên cứu của luận văn, nêu ra mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể cũng như câu hỏi nghiên cứu mà luận văn sẽ nghiên cứu và trả lời. Ngoài ra chương này cũng trình bày đối tượng và phạm vi nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu mà luận văn sẽ sử dụng. Ở chương tiếp theo, luận văn sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết liên quan và các nghiên cứu thực nghiệm trước đó về chủ đề vốn lưu động. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.
Vốn lưu động và quản lý vốn lưu động 2. Khái niệm vốn lưu động Vốn lưu động là tất cả tài sản ngắn hạn, hay còn gọi là tài sản lưu động như: Tiền, hàng tồn kho, chứng khoán khả mại và khoản phải thu. Nói đến vốn lưu động là đề cập đến những tài sản ngắn hạn dùng trong hoạt động của doanh nghiệp (Brigham & Houston, 2016). Còn theo tác giả Horne và Wachowicz (2008) thì có 2 khái niệm vốn lưu động là: Một là vốn lưu động ròng, là hiệu số của tài sản ngắn hạn trừ đi nợ ngắn hạn và tổng vốn lưu động, là tổng tài sản ngắn hạn.
Theo các tác giả Besley và Brigham (2019) thì khái niệm vốn lưu động hay còn được gọi là tổng vốn lưu động, thường dùng nói về tài sản ngắn hạn, đó là khoản đầu tư của doanh nghiệp vào các tài sản ngắn hạn như: Tiền, chứng khoán khả mại, hàng tồn kho và khoản phải thu. Còn theo tác giả Nyeadi và cộng sự (2018) thì vốn lưu động là tiền mà các doanh nghiệp sử dụng trong hoạt động hàng ngày của họ. Trong luận văn này, tác giả thống nhất với khái niệm vốn lưu động mà các tác giả Besley và Brigham (2019), Brigham và Houston (2016) đã nêu ở trên: Vốn lưu động là tất cả các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp như: Tiền, chứng khoán khả mại, hàng tồn kho và khoản phải thu. Đo lường vốn lưu động Theo tác giả Nobanee và cộng sự (2011) thì vốn lưu động thường được xem xét từ hai khía cạnh: Khía cạnh tĩnh hoặc khía cạnh động.
Ở khía cạnh tĩnh thì vốn lưu động được đo lường dựa trên các tỷ lệ thanh toán như tỷ số thanh toán hiện hành, tỷ số thanh toán nhanh, được tính toán dựa trên các số liệu từ bảng cân đối kế toán, các tỷ lệ này đo lường khả năng thanh khoản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Trong khi đó thì ở khía cạnh động sẽ đo lường khả năng thanh khoản liên tục từ hoạt động của doanh nghiệp và chu kỳ luân chuyển tiền là một thước đo như thế, 7 nó đo lường thời gian giữa việc thanh toán tiền mặt cho nguyên vật liệu thô và thu tiền mặt từ các khoản phải thu. Theo tác giả Deloof (2003), để đo lường hiệu quả của hoạt động quản trị vốn lưu động, thì chu kỳ luân chuyển tiền là thước đo được sử dụng phổ biến và rộng rãi. Chu kỳ luân chuyển tiền được tính toán theo công thức: Chu kỳ luân chuyển tiền = số ngày tồn kho bình quân + số ngày phải thu bình quân – số ngày phải trả bình quân.
Còn theo tác giả Lazaridis và Tryfonidis (2006) thì chu kỳ luân chuyển tiền có 3 thành phần: Khoản phải thu, khoản phải trả và hàng tồn kho và cả 3 thành phần này có thể được quản lý theo những cách khác nhau, nhằm mục đích là tối đa hóa hiệu quả của doanh nghiệp. Tương tự rất nhiều nghiên cứu trước đó, cụ thể là nghiên cứu của Biger và cộng sự (2010), Deloof (2003), García‐Teruel và Martínez‐Solano (2007), Lazaridis và Tryfonidis (2006), Yousaf và Bris (2021), luận văn này cũng sẽ sử dụng chu kỳ luân chuyển tiền để đo lường chính sách quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp. Khái niệm quản lý vốn lưu động Các tác giả Besley và Brigham (2019), Horne và Wachowicz (2008) đều có chung quan điểm: Quản lý vốn lưu động là xem xét việc quản lý các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, cụ thể là: Tiền mặt, chứng khoán khả mại, các khoản phải thu, hàng tồn kho và các nguồn tài chính (đặc biệt là nợ ngắn hạn) cần thiết để tài trợ cho các tài sản ngắn hạn đó. Trong nghiên cứu của mình Sharma và Kumar (2011) cho rằng: Lý thuyết về tài chính doanh nghiệp được chia ra 3 lĩnh vực lớn gồm: Lập ngân sách vốn, quyết định cấu trúc vốn và quản lý vốn lưu động.
Nếu như việc lập ngân sách vốn và quyết định cấu trúc vốn là những mảng công việc liên quan đến việc tài trợ và đầu tư các tài sản dài hạn của doanh nghiệp, thì quản lý vốn lưu động lại liên quan đến việc tài trợ và đầu tư các tài sản ngắn hạn. Vai trò quản lý vốn lưu động Quản lý vốn lưu động trực tiếp tác động đến tính thanh khoản của doanh nghiệp, cũng như quản lý về những tài sản ngắn hạn, nợ ngắn hạn, đó là những thành phần 8 quan trọng đảm bảo cho sự hoạt động trơn tru của doanh nghiệp (Sharma & Kumar, 2011). Quản lý vốn lưu động được xem là phần rất quan trọng trong quản trị tài chính ở hầu hết các doanh nghiệp (Deloof, 2003), một chính sách quản lý vốn lưu động hiệu quả là rất cần thiết để giúp cho doanh nghiệp hoạt động ở một mức vốn lưu động cụ thể (Yousaf & Bris, 2021). Nội dung quản lý vốn lưu động Quản lý vốn lưu động bao gồm việc quản lý các thành phần sau: Thời gian trung bình xử lý hàng tồn kho, thời gian trung bình thu tiền khách hàng, Thời gian trung bình thanh toán nhà cung cấp (Mathuva, 2010).
Mối quan hệ giữa các thành phần đó được giải thích trong mô hình sau: Hình 2.1: Chu kỳ luân chuyển tiền (Nguồn:Brigham & Houston, 2016) Trong đó: Chu kỳ luân chuyển tiền (CCC): Độ dài thời gian từ khi chi trả cho vốn lưu động đến khi thu tiền mặt từ bán vốn lưu động. Thời gian trung bình xử lý hàng tồn kho: Độ dài thời gian trung bình cần thiết để chuyển nguyên vật liệu thành sản phẩm hoàn thành và bán chúng. 9 Thời gian trung bình thu tiền khách hàng: Độ dài thời gian trung bình cần thiết để chuyển khoản phải thu thành tiền mặt, nghĩa là thời gian thu tiền sau khi bán hàng. Thời gian trung bình thanh toán nhà cung cấp: Độ dài thời gian trung bình từ khi mua vật liệu và thuê nhân công đến khi trả tiền vật liệu và chi lương.
Còn theo 2 tác giả Filbeck và Krueger (2005) thì cho rằng: Mục tiêu của quản lý vốn lưu động là duy trì sự cân bằng tối ưu của từng bộ phận cấu thành vốn lưu động. Khả năng tồn tại của doanh nghiệp dựa vào khả năng quản lý hiệu quả các khoản phải thu, hàng tồn kho và các khoản phải trả. Các công ty có thể giảm chi phí tài chính và/ hoặc tăng nguồn vốn sẵn có để phát triển bằng cách giảm thiểu lượng vốn bị ràng buộc trong tài sản lưu động. Nhiều nỗ lực của các nhà quản lý tập trung vào việc đưa các mức tài sản và nợ ngắn hạn từ không tối ưu về mức tối ưu - mức đạt được sự cân bằng giữa hiệu quả và rủi ro.
Hiệu quả của doanh nghiệp 2. Khái niệm hiệu quả doanh nghiệp Hiệu quả doanh nghiệp được hiểu là kết quả thể hiện ra bên ngoài của các hoạt động trong doanh nghiệp và kết quả này cần đo lường được (Neely và cộng sự, 1995). Trong doanh nghiệp có rất nhiều hoạt động khác nhau, vì thế góc nhìn về hiệu quả doanh nghiệp cũng có nhiều điểm khác nhau và vấn đề đặt ra là mục đích đo lường hiệu quả để phục vụ cho điều gì (Santos & Brito, 2012)? Tác giả Connolly và cộng sự (1980) cho rằng: Hiệu quả phải được đo lường, và kết quả đo lường này để phục vụ cho các bên có liên quan trong doanh nghiệp: Cổ đông, nhà đầu tư, nhà điều hành, xã hội, nhân viên trong doanh nghiệp…Và với mỗi bên liên quan khác nhau thì cách nhìn nhận về hiệu quả, đo lường hiệu quả là khác nhau. Luận văn sẽ tiếp cận khái niệm hiệu quả doanh nghiệp dưới góc nhìn của cổ đông, nhà đầu tư và tương ứng là hiệu quả về mặt tài chính của doanh nghiệp.
Đo lường hiệu quả doanh nghiệp Tác giả Santos và Brito (2012) cho rằng hiệu quả doanh nghiệp thường được đo lường qua 2 góc độ là hiệu quả tài chính và hiệu quả phi tài chính. Hiệu quả tài chính được đại diện bởi lợi nhuận, tăng trưởng và giá trị thị trường (Venkatraman & 10 Ramanujam, 1986). Cũng theo Santos và Brito (2012) thì cấu trúc đo lường hiệu quả tài chính có thể ở dạng đa hướng bậc 1 hoặc đa hướng bậc 2. Cấu trúc đo lường đa hướng bậc 2 được Venkatraman và Ramanujam (1986) đề xuất, nó được đại diện bởi thang đo tài chính (được đo lường bởi tăng trưởng, giá trị thị trường và lợi nhuận) và thang đo hiệu quả chiến lược (được đo bởi sự hài lòng của nhân viên, sự hài lòng của khách hàng, hiệu quả của môi trường làm việc, hiệu quả của môi trường xã hội).
Trên cơ sở nền tảng lý thuyết của Venkatraman và Ramanujam (1986), trong nghiên cứu thực nghiệm của mình Santos và Brito (2012) lại cho thấy thang đo hiệu quả tài chính được tạo thành bởi hai thang đo chính là lợi nhuận và tăng trưởng. Trong đó, lợi nhuận được đo bởi ROA (lợi nhuận trên tổng tài sản), ROS (lợi nhuận trên doanh thu), ROI (lợi nhuận trên đầu tư), ROE (lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu), EVA (giá trị kinh tế gia tăng). Còn tăng trưởng được đo bởi tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng tài sản, tăng trưởng thị phần, tăng trưởng lợi nhuận. Như đã nói ở trên, luận văn tiếp cận khái niệm hiệu quả doanh nghiệp từ góc nhìn của các cổ đông, nhà đầu tư - tương ứng với góc nhìn này là khía cạnh hiệu quả tài chính, lợi nhuận của doanh nghiệp, và sẽ được đo lường qua 2 tỷ số ROA (lợi nhuận trên tổng tài sản) và ROE (lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu).
Trong khi đó các tỷ số khác như ROS (tỷ lệ lợi nhuận trên doanh số bán hàng), ROI (tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư), EVA (giá trị kinh tế gia tăng) vì lý do luận văn không thể tiếp cận được dữ liệu nên sẽ không được sử dụng trong nghiên cứu. Quản lý vốn lưu động và hiệu quả doanh nghiệp 2. Khoản phải thu và hiệu quả doanh nghiệp Khoảng thời gian chênh lệch từ lúc bán hàng đến lúc thu được tiền tạo ra các khoản phải thu của doanh nghiệp (Fabozzi & Peterson, 2003).