Chương 1: Một số vấn đề lý luận về việc lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất Chương 2: Thực trạng lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất theo chuẩn mực kế toán Việt Nam – nghiên cứu trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh 6 Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất cho các doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh - Phần 3: Kết luận - Tài liệu tham khảo - Phụ lục 7 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH HỢP NHẤT 1.1 Những vấn đề chung về báo cáo tài chính hợp nhất 1.1 Khái niệm và mục đích sử dụng báo cáo tài chính hợp nhất 1.1 Khái niệm BCTCHN IFRS 10 (2011): Báo cáo tài chính hợp nhất là các báo cáo tài chính của một nhóm mà trong đó tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu nhập, chi phí và các dòng tiền của công ty mẹ và các công ty con của nó được trình bày như là một thực thể kinh tế duy nhất.2 Tác dụng của báo cáo tài chính hợp nhất Báo cáo tài chính của một doanh nghiệp là công cụ hữu hiệu nhất cung cấp thông tin tài chính cho nhiều đối tượng quan tâm, bao gồm nhà quản lý, nhà đầu tư, cơ quan nhà nước cũng như các đối tượng khác. Trong quy mô tập đoàn kinh tế, Báo cáo tài chính của các đơn vị một cách riêng lẻ sẽ không có nhiều ý nghĩa cho các đối tượng quan tâm, do các giao dịch kinh tế phát sinh được phân tích, đánh giá và thực hiện không chỉ bó hẹp trong từng doanh nghiệp, mà theo khuôn khổ “thực thể kinh tế” chung. Điều này cũng giải thích cho sự ra đời và ý nghĩa kinh tế của Báo cáo tài chính hợp nhất của các tập đoàn. Tùy theo mỗi đối tượng sử dụng báo cáo tài chính hợp nhất mà nó phát huy tác dụng một cách khác nhau: - Đối với nhà quản trị: việc nắm bắt tổng thể tình hình tài chính của tập đoàn là rất quan trọng trong việc quản lý hoạt động hiện tại, định hướng phát triển và phân bổ nguồn lực trong tương lai.
Từ những giá trị trên BCTCHN cùng với việc phân tích các chỉ số nhà quản trị sẽ có những quyết định về các hoạt động đầu tư kinh doanh cũng như là các chính sách tài chính, chính sách nội bộ trong tập đoàn một cách hiệu quả nhất. 8 - Đối với nhà đầu tư: họ cũng cần nắm được tổng thể tình hình tài chính, nguồn vốn đầu tư được thực hiện và phân bổ như thế nào trong cả tập đoàn. Yếu tố họ quan tâm là mức độ sinh lời, thời gian hoàn vốn cũng như mức độ an toàn của đồng vốn đã bỏ ra đầu tư. Đồng thời, kết quả kinh doanh của tập đoàn cũng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các cổ đông, chứ không đơn thuần chỉ là kết quả kinh doanh của công ty mẹ.
Trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là đối với các DNNN, các tập đoàn kinh tế của nhà nước thực hiện quá trình cổ phần hóa gắn liền với việc niêm yết cổ phiếu và chào bán chứng khoán ra công chúng thì nhu cầu sử dụng Báo cáo tài chính hợp nhất của nhà đầu tư càng trở nên cần thiết hơn. - Đối với chủ nợ như ngân hàng, các nhà cho vay tài chính hay các nhà cung cấp: điều mà họ quan tâm nhất là khả năng chi trả của tập đoàn, do đó thông qua BCTCHN họ sẽ tập trung vào khả năng thanh toán, nguồn vốn chủ sở hữu và khả năng sinh lời của đồng vốn từ đó sẽ có những quyết định trong tương lai về việc có tiếp tục làm việc với tập đoàn hay không.2 Sơ lƣợc quá trình phát triển báo cáo tài chính hợp nhất trên thế giới Nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển cùng với sự hội nhập kinh tế quốc tế đã hình thành nên những mô hình đầu tư ngày càng đa dạng. Trước bối cảnh đó thì mô hình công ty mẹ -công ty con hay tập đoàn đa ngành, đa quốc gia ra đời. Tuy nhiên, nền kinh tế tại mỗi nước chịu sự quản lý của những nguyên tắc và chuẩn mực kế toán riêng biệt.
Chính vì thế đòi hòi phải có một sự thống nhất các nguyên tắc kế toán giữa các quốc gia. Sự thống nhất này được đánh dấu bằng sự ra đời của Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế IASC vào năm 1973, IASC có nhiệm vụ soạn thảo, ban hành và công bố những chuẩn mực kế toán quốc tế IAS. Những chuẩn mực này là những quy định và hướng dẫn các nguyên tắc, phương pháp kế toán cho công tác lập và trình bày báo cáo tài chính ở các nước trên thế giới. Để thu hút vốn đầu tư từ quốc gia khác thì việc áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế là thực sự cần thiết nhằm đảm bảo tính nhất quán trong việc lập báo cáo tài chính trên thế giới.
Năm 2001, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế được thay thế bởi Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế IASB Nhiệm vụ của IASB là phát triển một bộ chuẩn mực kế toán toàn 9 cầu phục vụ cho lợi ích chung, có chất lượng cao, dễ hiểu, có thế áp dụng trên toàn thế giới, yêu cầu thông tin phải rõ ràng và so sánh được, nhằm giúp những người tham gia ở các thị trường vốn khác nhau trên thế giới và những đối tượng sử dụng thông tin khác ra quyết định kinh tế. Để đạt mục tiêu này, IASB phối hợp với các tổ chức ban hành chuẩn mực kế toán ở các nước để đạt được sự hội tụ các chuẩn mực kế toán. IASB ban hành các chuẩn mực kế toán được gọi là Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế IFRS cùng với việc sửa đổi các chuẩn mực kế toán quốc tế cho phù hợp hơn và quy định một số nội dung mới về báo cáo tài chính quốc tế mà các chuẩn mực trước đó chưa ban hành. Sự ra đời của bộ chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế cho thấy tầm quan trọng của việc trình bày nhất quán, minh bạch trong các báo cáo tài chính phục vụ tốt hơn nhu cầu của các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
Chính vì sự ra đời các chuẩn mực này mà đã rút ngắn các khoảng cách thông tin trên báo cáo tài chính giữa các quốc gia trên thế giới. Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế đã ban hành các chuẩn mực về báo cáo tài chính hợp nhất như sau: Bảng 1.1: Các chuẩn mực kế toán quốc tế về báo cáo tài chính hợp nhất IAS/IFRS Tên chuẩn mực IAS 21 Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái IAS 27 Báo cáo tài chính riêng IAS 28 Đầu tư vào công ty liên kết IFRS 3 Hợp nhất kinh doanh IFRS 10 Báo cáo tài chính hợp nhất Quá trình hình thành và phát triển của hai chuẩn mực kế toán quốc tế liên quan báo cáo tài chính hợp nhất IAS 27 và IFRS 10 như sau: 10 IAS 27 – Báo cáo tài chính riêng ra đời vào tháng 4/1989 và trải qua các lần chỉnh sửa như sau: IAS 27 (4/1989) IAS 27 (12/1998) IAS 27 (12/2003) IAS 27 (10/2008) IAS 27 (5/2011) IFRS 10 – Báo cáo tài chính hợp nhất. Vào tháng 5 năm 2011, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) ban hành IFRS 10 “Báo cáo tài chính hợp nhất”, có hiệu lực sau ngày 1/1/2013. IFRS 10 thiết lập một mô hình duy nhất áp dụng cho tất cả các đơn vị, bao gồm cả “Thực thể mục đích đặc biệt”.
SIC-12 “Hợp nhất-Các thực thể có mục đích đặc biệt” đã được thu hồi. Một phần nội dung của chuẩn mực IAS 27 “Báo cáo tài chính riêng và hợp nhất” đã được chuyển từ IAS 27 sang IFRS 10. Những gì còn lại trong IAS 27 được giới hạn trong kế toán các khoản đầu tư vào công ty con, công ty liên kết trong báo cáo tài chính riêng. Những thay đổi được giới thiệu bởi IFRS 10 sẽ yêu cầu quản lý đưa ra quyết định quan trọng nhằm xác định các đơn vị nào bị kiểm soát, và phải được hợp nhất bởi một công ty mẹ.
IFRS 10 yêu cầu phải điều chỉnh hồi tố lại BCTC hợp nhất cho những khác biệt giữa IAS 27 và IFRS 10, việc áp dụng hồi tố này dành cho BCTC hợp nhất năm 2012, còn những năm trước 2012 thì có thể có quyền chọn điều chỉnh hoặc không điều chỉnh.2: Quá trình ban hành chuẩn mực IFRS 10 (2011) và IAS 27 (2011) IAS/IFRS Thời gian Nội dung 04/2002 Dự án về hợp nhất được thêm vào dự án của IASB 18/12/2008 Công bố bản nháp về báo cáo tài chính hợp nhất Bản nháp của IFRS về báo cáo tài chính hợp nhất được 29/09/2010 phát hành IFRS 10 Ban hành IFRS 10 về báo cáo tài chính hợp nhất, có hiệu 05/2011 lực từ 01/01/2013 06/2012 Sửa đổi IFRS Sửa đổi các thực thể đầu tư, chuyển đến IFRS 10, IFRS 12/2012 12 và IAS 27 11 Công bố bản nháp về báo cáo tài chính hợp nhất 09/1987 và kế toán các khoản đầu tư vào công ty con IAS 27 Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán các khoản đầu tư vào công ty con được ban hành, có hiệu lực từ 04/1989 01/01/1990 1994 IAS 27 được chỉnh sửa IAS 27 được chỉnh sửa theo IAS 39 Công cụ tài chính: 12/1998 ghi nhận và đo lường IAS 27 Báo cáo tài chính hợp nhất và báo cáo tài chính riêng được ban hành, có hiệu lực từ 18/12/2003 01/01/2005 IAS 27 25/06/2005 Công bố bản nháp đề nghị chỉnh sửa IFRS 3 và IAS 27 IAS 27 Báo cáo tài chính hợp nhất và báo cáo tài chính 10/2008 riêng được ban hành, có hiệu lực từ 01/07/2009 Chỉnh sửa chi phí của công ty con trong báo cáo tài chính 22/05/2008 riêng của công ty mẹ lần đầu áp dụng các IFRS 05/2010 Chỉnh sửa theo sự cải tiến hàng năm đến IFRS năm 2010 Ban hành lại IAS 27 Báo cáo tài chính riêng (đã được chỉnh trong 2011), những yêu cầu hợp nhất được chỉnh từ IAS27 (2008) được xét lại và nó được ghi nhận trong IFRS 10 Báo cáo tài chính hợp nhất, có hiệu lực từ 05/2011 01/01/2013 1.3 Các lý thuyết làm cơ sở cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất 1.1 Nội dung các lý thuyết 1.