Chương 1: Tổng quan về công tác phân tích tài chính doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng về công tác phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài. 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÕ CỦA PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.
Doanh nghiệp Lƣu Thị Hƣơng (2005) chỉ ra rằng doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tƣ cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trƣờng nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu. Doanh nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân. Có nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện đƣợc bởi các doanh nghiệp chứ không phải cá nhân. Trong nền kinh tế thị trƣờng, các doanh nghiệp bao gồm các chủ thể kinh doanh sau đây: Kinh doanh cá thể + Là loại hình đƣợc thành lập đơn giản nhất, không cần phải có điều lệ chính thức và ít chịu sự quản lý của Nhà nƣớc.
+ Không phải trả thuế thu nhập doanh nghiệp, tất cả lợi nhuận bị tính thuế thu nhập cá nhân. + Chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ và các khoản nợ, không có sự tách biệt giữa tài sản cá nhân và tài sản doanh nghiệp. + Khả năng thu hút vốn bị hạn chế bởi khả năng của ngƣời chủ. Kinh doanh góp vốn + Việc thành lập doanh nghiệp này dễ dàng và chi phí thành lập thấp.
Đối với các hợp đồng phức tạp cần phải đƣợc viết tay. Một số trƣờng hợp cần có giấy phép kinh doanh. 7 + Các thành viên chính thức có trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ. Mỗi thành viên có trách nhiệm đối với phần tƣơng ứng với phần vốn góp.
Nếu nhƣ một thành viên không hoàn thành trách nhiệm trả nợ của mình, phần còn lại sẽ do các thành viên khác hoàn trả. + Doanh nghiệp tan vỡ khi một trong các thành viên chính thức chết hay rút vốn. + Khả năng về vốn hạn chế. + Lãi từ hoạt động kinh doanh của các thành viên phải chịu thuế thu nhập cá nhân.
Kinh doanh công ty Công ty là loại hình doanh nghiệp mà ở đó có sự kết hợp ba loại lợi ích: các cổ đông (chủ sở hữu), của hội đồng quản trị và của các nhà quản lý. Theo truyền thống, cổ đông kiểm soát toàn bộ phƣơng hƣớng, chính sách và hoạt động của công ty. Cổ đông bầu nên hội đồng quản trị, sau đó hội đồng quản trị lựa chọn ban quản lý. Các nhà quản lý quản lý hoạt động của công ty theo cách thức mang lại lợi ích tốt nhất cho cổ đông.
Việc tách rời quyền sở hữu khỏi các nhà quản lý mang lại cho công ty các ƣu thế so với kinh doanh cá thể và góp vốn. + Quyền sở hữu có thể dễ dàng chuyển cho cổ đông mới. + Sự tồn tại của công ty không phụ thuộc vào sự thay đổi số lƣợng cổ đông. + Trách nhiệm của cổ đông chỉ giới hạn ở phần vốn mà cổ đông góp vào công ty (trách nhiệm hữu hạn).
Mỗi loại hình doanh nghiệp có những ƣu, nhƣợc điểm riêng và phù hợp với quy mô, trình độ phát triển nhất định. Hầu hết các doanh nghiệp lớn hoạt động với tƣ cách là các công ty. Đây là loại hình phát triển nhất của doanh nghiệp. Tài chính doanh nghiệp Theo Lƣu Thị Hƣơng (2005), tài chính doanh nghiệp đƣợc hiểu là tổng thể những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế.
8 Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu bao gồm: Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nƣớc: Đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nƣớc, khi Nhà nƣớc góp vốn vào doanh nghiệp. Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trƣờng tài chính: Quan hệ này đƣợc thể hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ. Trên thị trƣờng tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn, để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn. Ngƣợc lại, doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phần cho các nhà tài trợ.
Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tƣ chứng khoán và số tiền tạm thời chƣa sử dụng. Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Trong nền kinh tế, doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thi trƣờng hàng hóa, dịch vụ, thị trƣờng sức lao động. Đây là những thị trƣờng mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc, thiết bị, nhà xƣởng, tìm kiếm lao động,. Điều quan trọng là thông qua thị trƣờng, doanh nghiệp có thể hoạch định ngân sách đầu tƣ, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thỏa mãn nhu cầu thị trƣờng.
Các quan hệ tài chính doanh nghiệp còn đƣợc thể hiện trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để thực hiện sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần giải quyết 3 vấn đề quan trọng, đó là: Thứ nhất, nên đầu tƣ dài hạn vào đâu và bao nhiêu cho phù hợp với loại hình sản xuất kinh doanh đã lựa chọn? Đây là chiến lƣợc đầu tƣ dài hạn cho doanh nghiệp và là cơ sở để dự toán vốn đầu tƣ. Thứ hai, nguồn vốn đầu tƣ cho sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp có thể tiếp cận, khai thác và sử dụng xuất phát từ những nguồn nào? Thứ ba, doanh nghiệp sẽ quản lý hoạt động tài chính nhƣ thế nào, chẳng hạn sử dụng lợi nhuận nhƣ thế nào? Cân bằng thu chi thế nào? Phân 9 tích, đánh giá hoạt động tài chính sao cho hiệu quả? Đây là các quyết định trong ngắn hạn và liên quan mật thiết đến hoạt động quản lý vốn lƣu động trong doanh nghiệp. Phân tích tài chính doanh nghiệp Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ (2008) nêu rõ phân tích tài chính doanh nghiệp là tổng thể các phƣơng pháp đƣợc sử dụng để đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, giúp cho nhà quản lý đƣa ra đƣợc quyết định quản lý chuẩn xác và đánh giá đƣợc doanh nghiệp, từ đó giúp những đối tƣợng quan tâm đi tới những dự đoán chính xác về mặt tài chính của doanh nghiệp, qua đó có những quyết định phù hợp với lợi ích của chính họ.
Có rất nhiều đối tƣợng quan tâm đến và sử dụng thông tin kinh tế tài chính của doanh nghiệp. Mỗi đối tƣợng lại quan tâm theo giác độ và với mục tiêu khác nhau. Do nhu cầu về thông tin tài chính doanh nghiệp rất đa dạng, đòi hỏi phân tích tài chính doanh nghiệp phải đƣợc tiến hành bằng nhiều phƣơng pháp khác nhau để từ đó đáp ứng nhu cầu của các đối tƣợng quan tâm. Chính điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho phân tích tài chính ra đời, ngày càng hoàn thiện và phát triển, đồng thời cũng tạo ra sự phức tạp của phân tích tài chính.
Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp Các đối tƣợng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp có thể tập hợp thành các đối tƣợng chính sau đây: nhà quản lý; các cổ đông hiện tại và ngƣời đang muốn trở thành cổ đông của doanh nghiệp; ngƣời lao động; những ngƣời tham gia vào ”đời sống” của doanh nghiệp; những ngƣời cho doanh nghiệp vay tiền nhƣ ngân hàng, các tổ chức tài chính, ngƣời mua tín phiếu của doanh nghiệp, các doanh nghiệp khác. ; Nhà nƣớc; nhà phân tích tài chính;. Các đối tƣợng sử dụng thông tin tài chính khác nhau sẽ đƣa ra các quyết định với mục đích khác nhau. Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ (2008) đã phân loại các đối tƣợng với mục đích sử dụng thông tin phân tích tài chính nhƣ sau: 10 1.
Đối với nhà quản trị Thông thƣờng, nhà quản trị sẽ sử dụng kết quả từ hoạt động phân tích tài chính nội bộ cho mục đích của mình (khác với hoạt động phân tích tài chính bên ngoài doanh nghiệp). Thông tin từ hoạt động phân tích tài chính nội bộ là đầy đủ các nhà phân tích trong doanh nghiệp có nhiều lợi thế để có kết quả phân tích chính xác nhất. Nhà quản trị sẽ dùng kết quả hoạt động phân tích tài chính cho những mục đích sau: Thứ nhất, hoạt động phân tích tài chính tạo ra chu kỳ đánh giá đều đặn về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ở quá khứ. Từ đó theo sát đƣợc các biến động về khả năng cân đối tài chính, khả năng sinh lời, hiệu quả hoạt động và mức độ rủi ro tài chính của doanh nghiệp.
Thứ hai, phân tích tài chính định hƣớng các quyết định của Ban Tổng Giám đốc về các hoạt động đầu tƣ, tài trợ, chia cổ tức, mua bán sát nhập,. Thứ ba, kết quả của hoạt động phân tích tài chính là cơ sở cho các dự báo tài chính: về dự báo hoạt động kinh doanh các năm tới, kế hoạch đầu tƣ cho sản xuất kinh doanh,. Cuối cùng, phân tích tài chính là công cụ để nhà quản trị kiểm soát các công cụ quản lý. Đối với nhà đầu tư Họ quan tâm đến lợi nhuận và khả năng trả nợ, sự an toàn trong sử dụng vốn.
Thông qua hoạt động phân tích tài chính, chủ đầu tƣ có thể đánh giá hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng điều hành hoạt động của nhà quản trị để ra quyết định tiếp tục sử dụng hoặc bãi nhiệm nhà quản trị, cũng nhƣ quyết định việc phân phối kết quả kinh doanh Họ cũng là đối tƣợng quan tâm đến tài chính doanh nghiệp bởi vì các nhà đầu tƣ là cá nhân hay tổ chức đều đã giao vốn của mình cho doanh nghiệp và có thể phải chịu những rủi ro trong quá trình doanh nghiệp sản xuất kinh 11 doanh. Thu nhập của nhà đầu tƣ đến từ tiền chia lợi tức cổ phần và giá trị tăng thêm của vốn đầu tƣ. Điều này chịu ảnh hƣởng lớn từ lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp. Trên thực tế, nhà đầu tƣ sẽ quan tâm đến sự an toàn của lƣợng vốn đầu tƣ, sau đó là khả năng sinh lời và thời gian hoàn vốn.
Câu hỏi họ đặt ra chính là: Lợi nhuận bình quân trên mỗi cổ phiếu của Công ty là bao nhiêu? Lợi nhuận kế toán không phải là điều mà nhà đầu tƣ quan tâm. Dự kiến trƣớc lợi nhuận sẽ đƣợc nghiên cứu đầy đủ trong chính sách chia lợi tức cổ phần và trong nghiên cứu rủi ro để nhà đầu tƣ lựa chọn những cổ phiếu phù hợp nhất.