Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH Ở CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Khái niệm, đặc điểm của công ty cổ phần Khái niệm: Công ty cổ phần là một thực thể trong nền kinh tế được hình thành theo luật định, một doanh nghiệp đa chủ, trách nhiệm hữu hạn với các đặc điểm như dễ chuyển đổi quyền sở hữu, có quyền sở hữu và quyền quản lý tách rời nhau, có đời sống vô hạn. Điều 51 Luật Doanh nghiệp Việt Nam quy định, công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp trong đó: - Vốn cổ phần dược chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. - Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm và các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
- Cổ đông có quyền chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 điều 55 và khoản 1 điều 58 của Luật Doanh nghiệp. - Cổ đông có thể là tổ chức, các nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa. - Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán. 5 z - Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Đặc điểm: Thứ nhất, CTCP là một doanh nghiệp tổ chức kinh doanh, có tư cách pháp nhân, tồn tại riêng biệt và độc lập với chủ sở hữu của nó. CTCP được thành lập theo pháp luật, được Nhà nước phê duyệt điều lệ hoạt động, có con dấu riênng, có quyền ký các hợp đồng kinh tế với tổ chức và cá nhân khác trong và ngoài nước, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Thứ hai, trong nền kinh tế thị trường, CTCP được tự ấn định mục tiêu và xác định các phương tiện sử dụng để thực hiện các mục tiêu đó, tự xác định tính chất của sản phẩm mà công ty sẽ sản xuất ra, lựa chọn nhà cung cấp nguyên vật liệu và khách hàng, tự thương lượng về giá cả mà công ty sẽ trả hoặc nhận, tự tìm kiếm vốn mà công ty cần huy động. Các công ty này được tự do phát triển mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ của pháp luật, đa dạng hoá hay thay đổi, thậm chí đình chỉ hoạt động theo ý muốn của công ty mà không cần tham khảo bất cứ một thẩm quyền nào.
Thứ ba, về tài sản trong công ty cổ phần được hình thành từ những nguồn mang đặc điểm riêng biệt, bao gồm: - Vốn điều lệ: được chia thành nhiều phần bằng nhau, gọi là cổ phiếu. Cổ đông dùng tiền hoặc tài sản của mình để góp vốn vào công ty dưới hình thức mua cổ phiếu. Vốn góp cổ phần hông phải là khoản nợ của công ty mà công ty được toàn quyền sử dụng vốn góp này. Vốn góp của cổ đông là căn cứ để công ty chia lợi nhuận cho mỗi cổ đông.
Để đảm bảo cho sự hoạt động của công ty, các cổ đông của công ty cổ phần có trách nhiệm góp vốn vào công ty nhưng không được quyền rút vốn khỏi công ty trong thời gian công ty đang hoạt động. Tuy nhiên, các cổ đông có quyền bán lại cổ phiếu của mình cho người khác. Mọi hoạt động chuyển 6 z nhượng cổ phần này diễn ra với tư cách là các giao dịch cá nhân nên không ảnh hưởng đến vốn điều lệ và hoạt động của công ty. - Vốn tự có: Đây là phần vốn mà công ty tự tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh dưới hình thức lợi nhuận không chia hết cho các cổ đông mà giữ lại trong công ty.
- Vốn vay: là số vốn của các đơn vị khác mà công ty được quyền sử dụng trong một thời gian nhất định, sau đó phải trả cho chủ nợ. Công ty không có quyền sở hữu mà chỉ có quyền sử dụng và phải trả cho quyền sử dụng đó một khoản lợi nhuận gọi là cổ tức. Khoản vốn vay bao gồm: +) Vốn vay trung hạn và dài hạn đây là số vốn mà công ty vay trên một năm mới phải trả và được thể hiện bằng hai hình thức chính. Một mặt, công ty có thể phát hành trái phiếu trên thị trường vốn, mọi các nhân, tổ chức có thể mua; mặt khác công ty có thể vay trực tiếp ngân hàng qua các hợp đồng dài hạn.
+) Nợ ngắn hạn: vốn này công ty phải trả trong thời gian là một năm, có thể công ty nợ nhà cung cấp, tín dụng ngân hàng hoặc nợ Nhà nước về các khoản nghĩa vụ. Thứ tư, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn đã góp. Trong trường hợp công ty không đủ tài sản để thanh toán các khoản nợ cho khách hàng thì cổ đông không phải chịu trách nhiệm về khoản nợ này. Thứ năm, về chức năng kinh tế của công ty cổ phần: trong nền kinh tế thị trường, các chức năng kinh tế của các công ty cổ phần là sản xuất sản phẩm hàng hoá và dịch để bán trên thị trường, bằng cách sử dụng các phương tiện vật chất, tài chính và nhân sự nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Thứ sáu, về cơ cấu lãnh đạo trong công ty cổ phẩn gồm ba bộ phận: Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất của công ty. 7 z Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, được Đại hội đồng cổ đông bầu ra nhằm thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu mà Đại hội đồng đã biểu quyết. Ban giám đốc: Hội đồng quản trị bổ nhiệm Ban giám đốc và các phó Giám đốc để điều hành công việc hàng ngày và tuân thủ theo chỉ thị và ý chí của Đại hội đồng cổ công và Hội đồng quản trị. Tổ chức hoạt động phân tích tài chính ở các công ty cổ phần 1.
Khái niệm về hoạt động phân tích tài chính Hoạt động phân tích tài chính trong doanh nghiệp là một quá trình trong đó nhà phân tích tài chính xử lý thông tin tài chính phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh thông qua sự lựa chọn các chỉ tiêu phân tích trong hệ thống chuẩn mực các chỉ tiêu phân tích phù hợp với tình hình kinh doanh của doanh nghiệp và việc sử dụng một hệ thống các phương pháp phân tích nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một thời gian hoạt động nhất định. Hoạt động phân tích tài chính nhằm đáp ứng các mục tiêu sau: - Tạo ra những chu kỳ đều đặn để đánh giá hoạt động quản lý trong giai đoạn đã qua thực hiện cân bằng tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và rủi ro của doanh nghiệp. - Hướng các quyết định của ban giám đốc theo hướng phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp như quyết định đầu tư, tài trợ, phân phối lợi nhuận. - Phân tích tài chính là cơ sở dự đoán tài chính - Phân tích tài chính doanh nghiệp là công cụ để kiểm tra, kiểm soát hoạt động doanh nghiệp.
Như vậy cho thấy họat động phân tích tài chính là công cụ hữu ích để xác định giá trị kinh tế, đánh giá các mặt mạnh, mặt yếu của một doanh nghiệp, tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan, giúp cho nhà quản lý lựa 8 z chọn và đưa ra quyết định phù hợp với thực trạng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vai trò của phân tích tài chính Phân tích tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu hiện hành và quá khứ. Thông qua việc phân tích tình hình tài chính, người sử dụng thông tin có thể đánh giá được tiềm năng, hiệu quả kinh doanh, cũng như những rủi ro trong tương lai. Bởi vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau.
Mỗi một nhóm người, tuỳ theo nhu cầu cũng như mối quan hệ lợi ích gắn bó với doanh nghiệp mà quan tâm đến các khía cạnh khác nhau trong bức tranh tài chính của doanh nghiệp. Đối với các chủ doanh nghiệp và nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ. Việc phân tích tài chính sẽ giúp họ cân đối được nhu cầu, khả năng thanh toán các khoản nợ và rủi ro tài chính có thể xảy ra. Hoạt động tài chính còn giúp ban giám đốc cũng như kế toán trưởng trong việc đưa ra các quyết định đầu tư, tài trợ, chính sách phân chia lợi tức.
Ngoài ra, phân tích tài chính doanh nghiệp còn là cơ sở cho việc lập các dự báo tài chính, như kế hoạch đầu tư, dự kiến ngân sách tiền mặt… Đối với các ngân hàng và các tổ chức tín dụng, họ thường hướng sự quan tâm của mình đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp, cũng như những nguồn mà doanh nghiệp có thể huy động để trả nợ, như: tiền mặt, hàng tồn kho. Bên cạnh đó, ngân hàng còn quan tâm đến lượng tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp, vì đây chính là sự đảm bảo của doanh nghiệp đối với ngân hàng trong trường hợp doanh nghiệp mất khả năng thanh toán vì một lý do nào đấy. Không một ngân hàng nào lại chấp nhận cho một doanh nghiệp vay tiền nếu các thông tin cho thấy doanh nghiệp không đảm bảo chắn chắn rằng khoản vay đó có thể và sẽ được thanh toán ngay khi đến hạn. 9 z Đối với nhà cung ứng (vật tư, hàng hoá, dịch vụ…) họ sẽ yên tâm hơn khi giao dịch với các doanh nghiệp mà khả năng tài chính vững chắc thông qua các chỉ tiêu về vốn lưu động, khả năng thanh toán ngắn hạn.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp có tình hình tài chính khả quan sẽ nhận được sự tín nhiệm hơn từ phía các nhà cung ứng, tạo được mối quan hệ làm ăn lâu dài và trong nhiều trường hợp có thể được nhà cung ứng cho hưởng tín dụng mua hàng. Đối với nhà đầu tư: các nhà đầu tư tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc đầu tư vào mua cổ phiếu của công ty cổ phần. Do vậy, họ luôn mong đợi tìm kiếm cơ hội đầu tư vào những cổ phiếu của công ty có khả năng sinh lợi cao. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt, các nhà đầu tư cũng phải tìm biện pháp bảo vệ an toàn cho đồng vốn đầu tư của họ.