Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Nâng cao vai trò của Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước ở Việt Nam" được tác giả Trần Xuân Tú thực hiện tại Học viện Tài chính thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tài chính, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Văn Tá và TS. Trần Nguyên Nam (năm 2019), thuộc chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, mã số 9.01.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Cải cách doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) và doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước (DN có VĐTNN) là một trong những nội dung trọng tâm của quá trình đổi mới nền kinh tế Việt Nam từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn đầu, các Bộ và Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh, thành phố đồng thời thực hiện ba chức năng: quản lý Nhà nước về kinh tế, chủ quản cấp trên đối với doanh nghiệp và đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước. Cơ chế này bộc lộ nhiều hạn chế: không tách bạch giữa quản lý hành chính kinh tế và điều hành sản xuất kinh doanh; đầu tư vốn dàn trải, manh mún; quy mô doanh nghiệp nhỏ, cơ cấu bất hợp lý; cổ phần hóa diễn ra chậm và thiếu triệt để.
Nhằm khắc phục tình trạng trên, thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 151/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 thành lập Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) và Quyết định số 152/2005/QĐ-TTg ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động. SCIC chính thức hoạt động từ ngày 01/8/2006 với hai chức năng cơ bản: tiếp nhận, đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước tại các công ty cổ phần, công ty TNHH một thành viên; thực hiện đầu tư và kinh doanh vốn vào các ngành, lĩnh vực then chốt. Sau hơn 10 năm vận hành, bên cạnh các kết quả đạt được như bảo toàn, phát triển vốn tại Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) hay Công ty cổ phần Viễn thông FPT, cơ chế chính sách liên quan đến thẩm quyền, mô hình tổ chức và năng lực tài chính của SCIC vẫn còn vướng mắc. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần hoàn thiện thể chế và nâng cao vai trò của SCIC trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các DN có VĐTNN trên cả phương diện vi mô và vĩ mô.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là xây dựng cơ sở lý luận về vai trò của Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước trong hoạt động tái cấu trúc tài chính DN có VĐTNN; khảo sát, đánh giá thực trạng vai trò của SCIC giai đoạn 2006-2017; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao vai trò của SCIC giai đoạn 2020-2025, tầm nhìn 2030.
Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Thứ nhất: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước, những vấn đề cơ bản về tái cấu trúc tài chính DN có VĐTNN và vai trò của mô hình này trong hoạt động tái cấu trúc tài chính.
- Thứ hai: Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng vai trò của SCIC trong tái cấu trúc tài chính các DN có VĐTNN tại Việt Nam trên góc độ vi mô và vĩ mô trong giai đoạn 2006-2017, chỉ rõ kết quả, hạn chế và nguyên nhân.
- Thứ ba: Đề xuất phương hướng, quan điểm và hệ thống giải pháp cụ thể nhằm nâng cao vai trò của SCIC trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các DN có VĐTNN giai đoạn 2020-2025, định hướng đến năm 2030.
Luận án đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Lý luận chung về Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước, tái cấu trúc tài chính DN có VĐTNN và vai trò của tổ chức này được xác định như thế nào?
- Câu hỏi 2: Thực trạng vai trò của SCIC trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các DN có VĐTNN ở Việt Nam giai đoạn 2006-2017 diễn ra như thế nào, đạt được những kết quả và còn tồn tại những hạn chế gì?
- Câu hỏi 3: Những giải pháp và điều kiện nào cần được thực thi để nâng cao vai trò của SCIC trong hoạt động tái cấu trúc tài chính DN có VĐTNN ở giai đoạn tiếp theo?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của SCIC trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các DN có VĐTNN.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu vai trò và hoạt động của SCIC tại các DN có VĐTNN do SCIC tiếp nhận và thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn.
- Phạm vi thời gian: Số liệu khảo sát thực trạng hoạt động của SCIC và báo cáo tài chính của các doanh nghiệp trong danh mục quản lý từ năm 2006 đến năm 2017; các giải pháp định hướng giai đoạn 2020-2025 và tầm nhìn 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước
Tổng quan lịch sử nghiên cứu trong luận án được phân loại theo hai khối công trình:
Khối nghiên cứu trong nước:
- Trần Thị Thanh Tú (2006), "Đổi mới cơ cấu vốn của các DNNN Việt Nam hiện nay", khảo sát 375 DNNN giai đoạn 2000-2005 tại Cục Tài chính Doanh nghiệp (Bộ Tài chính), ứng dụng đề xuất cơ cấu vốn cho Tổng Công ty Xây dựng Công trình Giao thông 1.
- Đoàn Hương Quỳnh (2009), "Giải pháp tái cơ cấu nguồn vốn của DNNN trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam", phân tích thực trạng cơ cấu nguồn vốn tại 104 DNNN giai đoạn 2005-2007.
- Nguyễn Thị Thu Hương (2009), "Quản lý vốn nhà nước tại DN sau cổ phần hóa", tập trung vào cơ chế quản lý vốn nhà nước hậu cổ phần hóa.
- Phạm Thị Thanh Hòa (2012), "Cơ chế quản lý vốn NN đầu tư tại DN ở Việt Nam" (Mã LA.3), hoàn thiện cơ sở lý luận và giải pháp thể chế quản lý vốn nhà nước.
- Vũ Thị Ngọc Lan (2014), "Tái cấu trúc vốn tại tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam", nghiên cứu cấu trúc vốn tập đoàn, đề xuất tái cấu trúc nợ và vốn chủ sở hữu tại PVN.
- Võ Thanh Thế (2015), luận văn thạc sĩ "Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động của SCIC", phân tích mô hình, thực trạng quản lý, đầu tư kinh doanh vốn của SCIC.
- Đặng Phương Mai (2016), "Giải pháp tái cấu trúc tài chính các DN trong ngành Thép ở Việt Nam", hệ thống hóa lý luận cấu trúc tài chính và tái cấu trúc nợ ngành thép.
- Dương Thị Hồng Vân (2014), "Nghiên cứu các nhân tố tác động tới cơ cấu vốn của các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam".
- Các đề tài nghiên cứu cấp cơ sở và bài báo khoa học: Nguyễn Đăng Nam (2004, 2014) về tái cơ cấu vốn làm lành mạnh hóa tài chính DNNN và xử lý nợ phải trả; Bạch Đức Hiển và Đoàn Hương Quỳnh (2010) về nguyên nhân tái cơ cấu nguồn vốn; Bùi Văn Vần và nhóm nghiên cứu (2014) về cơ cấu tài chính các DN may thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam; Vũ Công Ty và nhóm nghiên cứu (2012) về tái cấu trúc tại các tổng công ty xây dựng.
Khối nghiên cứu ngoài nước:
- Nghiên cứu về các làn sóng mua bán, sáp nhập (M&A) giai đoạn 1981-1989 và 1999-2000; Lewis (1990) và Tạp chí Phố Wall (1985) ghi nhận 398/850 (47%) tập đoàn lớn Bắc Mỹ thực hiện tái cấu trúc thu hẹp đa dạng hóa để tập trung vào mảng cốt lõi.
- Hoskisson và Johnson (2005), Muller (1987), Markides (1995), Bowman và Singh (1993) phân chia tái cấu trúc doanh nghiệp thành ba bộ phận: tái cấu trúc tài sản (asset restructuring), tái cấu trúc tài chính (financial restructuring) và tái cấu trúc hoạt động (operational restructuring).
- Patrick A. Gaughan (2002) phân tích tái cấu trúc tài chính như một quyết định tài chính độc lập nhằm xử lý các điểm yếu cấu trúc tài chính do tác động nội tại và bên ngoài.
- Michael Blatz, Karl-J. Kraus và Sascha Haghani (2006) khảo sát hơn 1.500 doanh nghiệp Đức sau khủng hoảng, xác lập mô hình ba trụ cột (tái cấu trúc tài chính, tái cấu trúc hoạt động, tái cấu trúc chiến lược), chỉ ra các doanh nghiệp sau tái cấu trúc tài chính có khả năng tăng trưởng lợi nhuận vượt 130% so với mức trung bình thị trường.
- William P. Mako (2001) nghiên cứu tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp tại Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia và Thái Lan sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 do áp lực sử dụng tỷ lệ nợ vay cao.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tài liệu cho thấy các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào đối tượng doanh nghiệp niêm yết hoặc từng DNNN, tập đoàn, ngành nghề kinh tế riêng biệt. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và độc lập về vai trò của SCIC trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các DN có VĐTNN trên cả hai bình diện vi mô (tại từng doanh nghiệp tiếp nhận) và vĩ mô (phân bổ lại nguồn lực vốn nhà nước trong nền kinh tế).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và các khái niệm sử dụng
- Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước: Là tổ chức tài chính do Nhà nước thành lập, sở hữu 100% vốn điều lệ, thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu và kinh doanh nguồn vốn Nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước: Theo Luật Doanh nghiệp 2014, DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; các doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ một phần vốn điều lệ (dù chiếm tỷ lệ chi phối hay không chi phối) được xác định là doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước.
- Cấu trúc tài chính và tái cấu trúc tài chính: Cấu trúc tài chính là sự kết hợp giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu để tài trợ cho tài sản (Klayman, 1994; Đặng Phương Mai, 2016; Bùi Văn Vần và Vũ Văn Ninh, 2013). Tái cấu trúc tài chính là quá trình cơ cấu lại tài sản và nguồn vốn một cách tối ưu, bảo đảm sự phù hợp giữa tài sản và nguồn tài trợ nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.
- Mô hình ba trụ cột tái cấu trúc doanh nghiệp: Luận án tiếp cận theo mô hình kết hợp đồng bộ giữa Tái cấu trúc tài chính (cải thiện khả năng thanh toán, tái lập cơ cấu nợ và vốn chủ sở hữu), Tái cấu trúc danh mục đầu tư/tài sản (tập trung hóa mảng cốt lõi qua thoái vốn hoặc đa dạng hóa) và Tái cấu trúc hoạt động (gia tăng doanh thu, cắt giảm chi phí, điều chỉnh vận hành).
- Nguyên tắc quản trị công ty của OECD: Ứng dụng 6 nguyên tắc quản trị (khuôn khổ pháp lý hiệu quả, bảo vệ quyền cổ đông, đối xử bình đẳng giữa các cổ đông, bảo đảm quyền lợi các bên liên quan, minh bạch thông tin, nâng cao trách nhiệm của Hội đồng quản trị).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp nghiên cứu tình huống (case study):
- Phương pháp định tính: Sử dụng các kỹ thuật diễn giải, quy nạp, phân tích, so sánh và tổng hợp dữ liệu thống kê thứ cấp để phân tích cơ chế, chính sách và đánh giá hoạt động quản lý, đầu tư vốn của SCIC.
- Phương pháp nghiên cứu tình huống: Nghiên cứu điển hình quá trình SCIC tham gia tái cấu trúc tài chính tại Tổng Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam (Vinaconex), phân tích trường hợp cổ phần hóa tại Công ty Cổ phần Thương mại du lịch và dịch vụ tổng hợp Điện Biên, đồng thời khảo sát mô hình quản lý vốn của Temasek Holdings (Singapore) và SASAC (Trung Quốc).
Nguồn dữ liệu
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ các báo cáo hoạt động, báo cáo tài chính của SCIC từ năm 2006 đến năm 2017; báo cáo tài chính kiểm toán của Vinaconex, Vinamilk, FPT Telecom; các văn bản quy phạm pháp luật (Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX, Quyết định 151/2005/QĐ-TTg, Quyết định 152/2005/QĐ-TTg, Kết luận 78-KL/TW năm 2010, Nghị định 99/2012/NĐ-CP, Luật Doanh nghiệp 2005 và 2014).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận chung về vai trò của Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về tổ chức và vận hành của mô hình Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước, bản chất của tái cấu trúc tài chính và kinh nghiệm quốc tế:
- Bản chất và chức năng của Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước: Luận giải sự cần thiết chuyển đổi quan hệ tài chính giữa Nhà nước và doanh nghiệp từ cấp phát hành chính sang đầu tư tài chính, tách quyền sở hữu tài sản khỏi quyền sử dụng tài sản. Nguồn vốn hình thành của công ty gồm: ngân sách cấp ban đầu và bổ sung, vốn tiếp nhận từ các DNNN độc lập/công ty cổ phần/công ty TNHH một thành viên chuyển giao, và lợi nhuận giữ lại từ hoạt động đầu tư (cổ tức, lợi nhuận phân phối).
- Sự cần thiết và nội dung tái cấu trúc tài chính: Phân tích các áp lực bên ngoài (chính sách đổi mới DNNN, hội nhập các hiệp định AFTA, CPTPP) và áp lực bên trong (kinh doanh thua lỗ kéo dài, mất cân đối cơ cấu tài sản - nguồn vốn, tăng trưởng quá nóng vượt tầm kiểm soát, đầu tư đa ngành dàn trải kém hiệu quả, hoạt động M&A).
- Kỹ thuật và phương pháp tái cấu trúc tài chính vi mô:
- Tái cấu trúc tài sản: Áp dụng các phương thức bán bớt tài sản (divestitures), tách công ty con giữ nguyên 100% sở hữu (spin-offs), tách công ty con và bán bớt dưới 20% cổ phần ra công chúng (equity carve-out).
- Tái cấu trúc nguồn vốn: Tái cấu trúc các khoản nợ phải trả (đàm phán gia hạn nợ, hoán đổi nợ thành cổ phần, mua bán nợ xấu) và tái cấu trúc vốn chủ sở hữu (phát hành cổ phần tăng vốn, mua lại cổ phần, điều chỉnh chính sách cổ tức).
- Kinh nghiệm quốc tế: Khảo sát mô hình Temasek Holdings (Singapore) trực thuộc Bộ Tài chính Singapore, quản lý danh mục đầu tư thương mại và thực hiện đầu tư - thoái vốn theo cơ chế thị trường giai đoạn 2007-2017; mô hình Ủy ban Giám sát và Quản lý Tài sản Nhà nước Trung Quốc (SASAC); Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA). Rút ra bài học cho Việt Nam về việc phân định rõ chức năng chủ sở hữu và chức năng quản lý hành chính nhà nước.
Chương 2: Thực trạng vai trò của Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước ở Việt Nam
Chương 2 đánh giá thực trạng hoạt động của SCIC giai đoạn 2006-2017 qua các cứ liệu thực tế:
- Tổng quan tổ chức và tình hình tài chính của SCIC: Quá trình tiếp nhận quyền đại diện chủ sở hữu vốn tại các doanh nghiệp thuộc các Bộ, ngành, địa phương theo Quyết định 151/2005/QĐ-TTg và Quyết định 152/2005/QĐ-TTg; cơ cấu tổ chức bộ máy gồm Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Ban Giám đốc và các ban chuyên môn.
- Thực trạng can thiệp tái cấu trúc tại các doanh nghiệp thành viên:
- Hiệu quả bảo toàn và phát triển vốn: Tại Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk), lũy kế cổ tức thu về cho Nhà nước đạt hơn 2.600 tỷ đồng (gấp hơn 3 lần số vốn đầu tư ban đầu), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) trung bình 3 năm đạt trên 40%/năm. Tại Công ty Cổ phần Viễn thông FPT, lũy kế cổ tức thu về gần 500 tỷ đồng (gấp hơn 3 lần vốn ban đầu), tỷ suất ROE trung bình 3 năm đạt trên 70%/năm.
- Tái cấu trúc tại doanh nghiệp địa phương: Trường hợp Công ty Cổ phần Thương mại du lịch và dịch vụ tổng hợp Điện Biên ghi nhận sự chuyển biến về hiệu quả hoạt động sau 14 tháng triển khai cổ phần hóa.
| Chỉ tiêu phân tích thực trạng |
Trước cổ phần hóa (Bảng 1) |
Sau 14 tháng cổ phần hóa (Bảng 2) |
| Doanh thu thuần |
Mức thấp, phân tán |
Tăng trưởng ổn định |
| Lợi nhuận sau thuế |
Thua lỗ/Hiệu quả thấp |
Có lãi, bảo toàn được vốn |
| Cơ cấu quản trị và lao động |
Tinh giản, sắp xếp lại |
Vận hành theo mô hình CTCP |
- Nghiên cứu tình huống chuyên sâu tại Vinaconex:
- Phân tích cơ cấu cổ đông đến ngày 31/12/2013 (Bảng 3), cơ cấu tài sản giai đoạn 2011-2013 (Biểu đồ 2) và cơ cấu nguồn vốn giai đoạn 2011-2013 (Biểu đồ 3). Giai đoạn 2011-2013, Vinaconex đối mặt với tỷ lệ nợ phải trả cao, đầu tư dàn trải ngoài ngành.
- SCIC tham gia vào Hội đồng quản trị, thực hiện tái cấu trúc dòng tiền, thoái vốn tại các dự án bất động sản và công ty liên kết kém hiệu quả, tái cơ cấu cấu trúc nợ vay ngân hàng.
- Kết quả phục hồi tài chính giai đoạn 2013-2017 (Biểu đồ 4, 5, 6, 7): Doanh thu và lợi nhuận sau thuế tăng trưởng ổn định, vốn chủ sở hữu được củng cố, hệ số nợ trên tổng tài sản giảm rõ rệt.
| Giai đoạn đánh giá tại Vinaconex |
Thực trạng tài chính và biện pháp xử lý |
Kết quả thực tế đạt được |
| Giai đoạn 2011 - 2013 |
- Hệ số nợ ở mức cao - Tài sản đầu tư dàn trải nhiều dự án - Cơ cấu cổ đông phân tán (Bảng 3) |
- Mất cân đối nguồn vốn ngắn hạn - Áp lực chi phí tài chính và nợ vay lớn |
| Giai đoạn tái cấu trúc (2013 - 2017) |
- SCIC đại diện vốn Nhà nước can thiệp quản trị - Thoái vốn ngoài ngành, bán bớt tài sản kém sinh lời - Cấu trúc lại các khoản nợ phải trả |
- Doanh thu, lợi nhuận cải thiện (Biểu đồ 4, 5) - Vốn CSH tăng, hệ số nợ giảm (Biểu đồ 6, 7) |
- Đánh giá tổng quát:
- Kết quả đạt được: Thực hiện tốt vai trò đại diện chủ sở hữu vốn; tối ưu hóa giá trị thoái vốn nhà nước tại các lĩnh vực không cần nắm giữ chi phối; đem lại nguồn thu cổ tức lớn cho ngân sách.
- Tồn tại và nguyên nhân: Tốc độ bàn giao quyền đại diện vốn tại một số Bộ, ngành, địa phương còn chậm do vướng mắc lợi ích cục bộ; danh mục quản lý gồm nhiều doanh nghiệp quy mô quá nhỏ, manh mún; cơ chế phân cấp đầu tư, quyền tự chủ tài chính của SCIC còn bị ràng buộc bởi các quy định hành chính.
Chương 3: Giải pháp nâng cao vai trò của Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước ở Việt Nam
Chương 3 xây dựng hệ thống quan điểm, mục tiêu và giải pháp cụ thể:
- Định hướng và mục tiêu phát triển: Bám sát định hướng cơ cấu lại DNNN; xác định mục tiêu chuyển đổi SCIC thành tổ chức đầu tư tài chính chuyên nghiệp của Chính phủ giai đoạn 2020-2025, định hướng đến năm 2030.
- Các quan điểm cần quán triệt: Tái cấu trúc tài chính nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp cho chủ sở hữu; phù hợp với biến động của môi trường kinh doanh; phù hợp với từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp; thống nhất với tái cấu trúc toàn diện (chiến lược, quản trị, hoạt động); vận dụng linh hoạt các phương pháp theo tính chất ngành nghề.
- Nhóm giải pháp vi mô:
- Xây dựng quy trình tái cơ cấu và đầu tư chuẩn hóa (Biểu đồ 8); xác định danh mục mục tiêu nắm giữ và đầu tư đến năm 2020 (Biểu đồ 9).
- Lựa chọn danh mục tài sản và ngành đầu tư theo tính chất chu kỳ kinh tế (Bảng 4) và đánh giá hiệu quả các lĩnh vực kinh tế theo chu kỳ (Bảng 5).
- Phân loại ngành, lĩnh vực tập trung nắm giữ/đầu tư của SCIC (Bảng 6), thực hiện tái cơ cấu danh mục hiện hữu và danh mục bàn giao mới (Bảng 7), phân bổ đầu tư mới theo từng lĩnh vực (Bảng 8).
| Nhóm phân loại danh mục đầu tư của SCIC |
Định hướng tái cấu trúc tài chính và đầu tư vốn |
| Doanh nghiệp trọng yếu, then chốt |
Giữ quyền chi phối, đầu tư bổ sung vốn, nâng cao năng lực quản trị theo thông lệ OECD |
| Doanh nghiệp hiệu quả, tăng trưởng tốt |
Nắm giữ tỷ lệ vốn phù hợp, tối đa hóa nguồn thu cổ tức, hỗ trợ mở rộng sản xuất kinh doanh |
| Doanh nghiệp ngoài ngành, quy mô nhỏ |
Đẩy mạnh thoái toàn bộ vốn nhà nước theo cơ chế thị trường, thu hồi vốn về quỹ tập trung |
| Doanh nghiệp thua lỗ, mất cân đối tài chính |
Áp dụng các biện pháp tái cơ cấu nợ, bán bớt tài sản không sinh lời hoặc giải thể, phá sản |
- Nhóm giải pháp vĩ mô, điều kiện thực hiện và kiến nghị:
- Hoàn thiện khung khổ pháp lý về chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước, xử lý dứt điểm tình trạng chậm bàn giao từ các Bộ, địa phương.
- Mở rộng quyền tự chủ trong hoạt động đầu tư tài chính, mua bán nợ, liên doanh liên kết của SCIC theo cơ chế thị trường.
- Kiến nghị Chính phủ và Bộ Tài chính sửa đổi cơ chế giám sát tài chính, hoàn thiện quy chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp đầu tư vốn chuyên trách.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm rõ khung lý luận về mô hình Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phân định rõ vai trò quản lý hành chính nhà nước và vai trò đại diện chủ sở hữu vốn đầu tư.
- Xác lập khung phân tích tái cấu trúc tài chính trong mối quan hệ gắn kết với mô hình ba trụ cột (tái cấu trúc tài chính, tái cấu trúc danh mục đầu tư/chiến lược, tái cấu trúc hoạt động), bổ sung cơ sở khoa học về quản trị tài chính doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động của SCIC trong giai đoạn 2006-2017 trên cả hai góc độ vi mô (tại các doanh nghiệp tiếp nhận như Vinaconex, Vinamilk, FPT Telecom, Công ty Cổ phần Thương mại du lịch và dịch vụ tổng hợp Điện Biên) và vĩ mô (điều hòa, phân bổ nguồn lực vốn nhà nước trong nền kinh tế).
- Đề xuất hệ thống giải pháp tái cấu trúc danh mục đầu tư theo chu kỳ kinh tế, quy trình chuẩn hóa hoạt động đầu tư - thoái vốn đến năm 2020-2025 và tầm nhìn 2030, cung cấp căn cứ thực tiễn để các cơ quan quản lý hoàn thiện chính sách đổi mới doanh nghiệp Nhà nước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát dữ liệu thực tế tại SCIC và các doanh nghiệp trong danh mục quản lý của SCIC trong giai đoạn 2006-2017. Do phạm vi phân cấp quản lý vốn Nhà nước thời kỳ này còn phân tán tại các Bộ, ngành và địa phương, các phân tích chưa bao quát toàn bộ các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nước quy mô lớn chưa chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu về SCIC.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu đánh giá vai trò của các định chế quản lý vốn chuyên trách trong bối cảnh thành lập Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp; nghiên cứu định lượng tác động của hoạt động tái cấu trúc tài chính đến giá trị doanh nghiệp trong các giai đoạn kinh tế biến động sau năm 2017.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý Nhà nước (Chính phủ, Bộ Tài chính, các Bộ chuyên ngành): Tham khảo cơ sở lý luận và đề xuất thể chế nhằm phân định chức năng quản lý hành chính và quyền sở hữu vốn, hoàn thiện cơ chế chuyển giao và thoái vốn Nhà nước.
- Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC): Ứng dụng quy trình tái cơ cấu danh mục đầu tư, phương pháp lựa chọn ngành theo chu kỳ kinh tế, kỹ thuật xử lý nợ và tái cấu trúc nguồn vốn tại các doanh nghiệp tiếp nhận.
- Nghiên cứu sinh, giảng viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Quản trị kinh doanh: Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu về tái cấu trúc doanh nghiệp, tài chính công ty và các tình huống tái cấu trúc thực tế tại Việt Nam (Vinaconex, Vinamilk, FPT Telecom...).
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ sở pháp lý thành lập và hai chức năng cốt lõi của SCIC là gì?
SCIC được thành lập theo Quyết định số 151/2005/QĐ-TTg và phê duyệt Điều lệ hoạt động theo Quyết định số 152/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/8/2006. Hai chức năng cốt lõi của SCIC là: (1) Tiếp nhận và thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước tại các công ty cổ phần, công ty TNHH một thành viên chuyển giao từ các Bộ, địa phương; (2) Thực hiện đầu tư và kinh doanh vốn vào các ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.
2. Mô hình ba trụ cột trong tái cấu trúc doanh nghiệp theo quan điểm luận án gồm những nội dung nào?
Mô hình ba trụ cột tái cấu trúc trên góc độ tài chính gồm:
- Tái cấu trúc tài chính: Thay đổi quy mô, kết cấu nợ và vốn chủ sở hữu nhằm cải thiện khả năng thanh toán và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.
- Tái cấu trúc danh mục đầu tư/tài sản: Xác định lại lĩnh vực kinh doanh thông qua thoái vốn các mảng ngoài ngành (tập trung hóa) hoặc mở rộng qua M&A (đa dạng hóa).
- Tái cấu trúc hoạt động: Cải thiện hiệu quả vận hành nội bộ bằng cách gia tăng doanh thu và cắt giảm chi phí.
3. Hiệu quả quản lý vốn của SCIC tại Vinamilk và FPT Telecom được phản ánh qua các số liệu cụ thể nào?
Theo báo cáo trong luận án:
- Tại Vinamilk, lũy kế cổ tức thu về cho cổ đông Nhà nước đạt hơn 2.600 tỷ đồng (gấp hơn 3 lần số vốn đầu tư ban đầu), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) bình quân 3 năm đạt trên 40%/năm.
- Tại Công ty Cổ phần Viễn thông FPT, lũy kế cổ tức thu về đạt gần 500 tỷ đồng (gấp hơn 3 lần vốn ban đầu), tỷ suất ROE bình quân 3 năm đạt trên 70%/năm.
4. Quá trình tái cấu trúc tài chính tại Vinaconex giai đoạn 2011-2017 diễn ra như thế nào?
Giai đoạn 2011-2013, Vinaconex đối mặt với áp lực mất cân đối nguồn vốn do hệ số nợ cao và danh mục đầu tư dàn trải. Sau khi SCIC tham gia quản trị, doanh nghiệp đã thực hiện tái cơ cấu danh mục tài sản, thoái vốn khỏi các dự án kém hiệu quả và cơ cấu lại các khoản nợ vay. Giai đoạn 2013-2017, doanh thu, lợi nhuận sau thuế và quy mô vốn chủ sở hữu của Vinaconex tăng trưởng ổn định, đồng thời hệ số nợ trên tổng tài sản giảm rõ rệt.
5. Các phương pháp tái cơ cấu tài sản được luận án hệ thống hóa gồm những hình thức nào?
Luận án chỉ rõ 3 phương pháp tái cơ cấu tài sản vi mô:
- Bán bớt tài sản (Divestitures): Bán một bộ phận tài sản, chi nhánh hoặc công ty con kém hiệu quả cho doanh nghiệp khác.
- Tách công ty con (Spin-offs): Tách một bộ phận hoạt động để thành lập công ty con độc lập, công ty mẹ tiếp tục nắm giữ 100% sở hữu.
- Tách công ty con và bán bớt cổ phần (Equity carve-out): Tách lập công ty con mới và bán một phần nhỏ cổ phần (thường dưới 20%) ra công chúng nhằm huy động vốn mới nhưng vẫn giữ quyền kiểm soát.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Xuân Tú đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về vai trò của Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước trong hoạt động tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước theo mô hình ba trụ cột kết hợp. Bằng việc phân tích toàn diện thực trạng hoạt động của SCIC giai đoạn 2006-2017 qua các nghiên cứu tình huống thực tế tại Vinaconex, Vinamilk và FPT Telecom, công trình đã làm rõ những kết quả đạt được, các điểm nghẽn thể chế và nguyên nhân tồn tại. Hệ thống giải pháp phân theo cấp độ vi mô, vĩ mô và chu kỳ kinh tế được đề xuất có giá trị thực tiễn đối với quá trình đổi mới cơ chế quản lý vốn Nhà nước giai đoạn 2020-2025 và tầm nhìn 2030.