Chương 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG TIẾN TRÌNH CHUYỂN ĐỔI SANG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG TIẾN TRÌNH CHUYỂN ĐỔI SANG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. Các công trình nghiên cứu đã công bố ngoài nước 1. Nghiên cứu về vai trò, sứ mệnh của doanh nghiệp nhà nước OECD (2005a), Corporate Governance of State-Owned Enterprises: A SURVEY OF OECD COUNTRIES, © OECD 2005.
Theo kết quả nghiên cứu của công trình này, DNNN được Nhà nước thành lập hoặc tham gia đầu tư, quản lý để trở thành công cụ phục vụ những mục tiêu nhất định của Nhà nước, cơ bản bao gồm mục tiêu chính trị và mục tiêu kinh tế [130]. DNNN từng có vai trò rất quan trọng trong các nền kinh tế, không chỉ ở các nước XHCN mà còn ở nhiều nước công nghiệp phát triển. Cơ sở cho vai trò này nằm ở ý chí của Nhà nước muốn sử dụng DNNN làm công cụ bảo đảm việc làm; phát triển các ngành công nghiệp đòi hỏi đầu tư lớn mà khu vực tư nhân chưa đáp ứng được; kiểm soát sự suy giảm của các ngành công nghiệp nặng có giá trị gia tăng thấp (đóng tàu, khai thác quặng, than đá); hỗ trợ khu vực tư nhân phải gánh chịu những rủi ro lớn (chẳng hạn thiên tai trong sản xuất nông nghiệp). DNNN cũng được kỳ vọng để gánh vác sứ mệnh thúc đẩy phát triển kinh tế; bảo đảm mục tiêu bình đẳng và ổn định xã hội thông qua việc đầu tư cơ sở hạ tầng, tạo việc làm mới; tạo nguồn thu, nguồn ngân sách cho các trợ cấp xã hội v.
Vì vậy, đã có giai đoạn trong lịch sử, nhiều quốc gia đầu tư hàng loạt DNNN ở nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau, từ công nghiệp nặng, cơ sở hạ tầng, cho tới nông nghiệp, thông tin liên lạc, công nghệ. Tuy nhiên, thực tế đã chỉ ra DNNN không thể hoàn thành các sứ mệnh và mục tiêu rộng lớn đó, trong nhiều trường hợp còn trở thành gánh nặng chi phí cho Nhà nước, cho xã hội. Cùng với việc khu vực tư nhân phát triển nhanh hơn, 6 hiệu quả hơn, trào lưu tư nhân hóa DNNN đã diễn ra mạnh mẽ, bắt đầu từ CHLB Đức (đầu những năm 1960), Anh (đầu những năm 1980) sang các nước OECD khác (trong những năm 1980) và các nền kinh tế chuyển đổi ở Đông Âu (cuối 90s đầu 90s). Sang đến đầu thế kỷ 21, vai trò của DNNN đã giảm mạnh tuy rằng vẫn có vai trò nhất định trong nền kinh tế của nhiều nước OECD, trước hết trong đóng góp GDP, tạo việc làm và thị trường vốn; có vai trò quan trọng trong các ngành cung cấp dịch vụ công cộng và cơ sở hạ tầng như năng lượng, giao thông và viễn thông, là những ngành cần thiết cho đời sống của phần lớn dân cư và sự phát triển của các ngành kinh tế khác.
Tại nền kinh tế thị trường hàng đầu thế giới như Hoa kỳ, Kevin R. Kosar(2011),“Federal Government Corporations:An Overview”, cho rằng mục tiêu thành lập các DNNN ở Hoa kỳ đầu thế kỷ 20 là trở thành công cụ can thiệp của Nhà nước khi có tình trạng “khẩn cấp", tạo thu nhập và phục vụ cho một số chức năng của Nhà nước. Báo cáo của GAO (1995), "Profiles of Existing Government Corpo ratin" thì lập luận rằng, DNNN được thành lập để cung cấp dịch vụ công có bản chất kinh doanh. Theo liệt kê của Kevin R.
Kosar số lượng DNNN cấp liên bang của Hoa kỳ hiện nay không còn nhiều (17 doanh nghiệp), chủ yếu trong lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, đường sắt và bưu chính, không có doanh nghiệp nào trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, chế tác. Các DNNN này do Quốc hội phê chuẩn thành lập để “cung cấp các dịch vụ công the o định hướng thị trường, tạo ra doanh thu bằng hoặc xấp xỉ với chi phí” [125]. Ở Châu Âu, điển hình là CHLB Đức, Luật Ngân sách liên bang (Điều 65) nhấn mạnh tới điều kiện để Chính phủ thành lập một DNNN hoặc tham gia đầu tư vào các doanh nghiệp là "có lợi ích quan trọng của Nhà nước và đạt được quyền lợi nhà nước này với hiệu suất cao hơn so với việc sử dụng các công cụ kinh tế khác, chẳng hạn công cụ hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách". CIEM (2012) dẫn nguồn trên Website của Bộ Tài chính Bang Hạ Xắc Xông: Mục tiêu ưu tiên trong đầu tư vốn vào các doanh nghiệp của Bang Hạ Xắc Xông không phải lợi nhuận mà là định hướng và khuyến khích doanh nghiệp phục vụ các mục tiêu tạo việc làm và phát triển kinh tế vùng.
Danh mục đầu tư của Bang là các doanh nghiệp trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học (dược phẩm, môi trường, động vật, 7 khảo cổ…), vận tải đường sắt, vận tải xe bus, điện, cảng nước sâu, xử lý chất thải, trung tâm triển lãm hội chợ và một số ngân hàng, xổ số kiến thiết… Tại các nước đang và kém phát triển, theo UNIDO(2003), “ Reforming State-Owned Enterprises: Lessons of International Experience, especially for the Least Developed Countries” trong giai đoạn đầu mới giành được độc lập, nhất là thập kỷ 1950-1960, DNNN có vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng; sản xuất, cung ứng hàng hóa và dịch vụ thiết yếu; tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo; thúc đẩy phát triển và bảo đảm an ninh kinh tế quốc gia; tạo nguồn thu cho Chính phủ. Dù vậy, trong giai đoạn sau đó, kết quả và hiệu quả hoạt động của DNNN rất yếu kém, không đạt mục tiêu, nhiều doanh nghiệp thua lỗ, chỉ đóng góp trung bình khoảng 4% GDP của các nước đang và kém phát triển vào cuối những năm 1970, là một trong những nguyên nhân mở ra quá trình tư nhân hóa mạnh mẽ trong 2 thập kỷ 1980 và 1990 [138]. Eslie Cohen (1997), Nghiên cứu “Khu vực quốc doanh: phạm vi và hạn chế của Nhà nước trong vai trò cổ đông”: Thể hiện quan điểm phản đối việc đầu tư ồ ạt và bao cấp của Nhà nước. Tác giả cho rằng, về cơ bản, Nhà nước không còn khả năng đảm nhận thành công vai trò do bị chi phối bởi quá nhiều mục tiêu, nghiên cứu này mới chỉ ra sự cần thiết phải tái cơ cấu nhưng chưa đưa ra được các định hướng và giải pháp của tái cơ cấu [118].
Nghiên cứu về quan hệ của Nhà nước với doanh nghiệp nhà nước và vấn đề phân bổ nguồn lực OECD (2011), “Development Co- Operarion Report” chỉ ra, từ năm 2000 đến nay DNNN không sử dụng các cơ hội và lợi thế chính sách của mình để có các hành vi cản trở cạnh tranh. Tuy nhiên, trong những ngành, lĩnh vực mà DNNN tồn tại hoặc có vị trí thống lĩnh, độc quyền thì không còn cơ hội tốt để doanh nghiệp khác gia nhập thị trường. Đặc biệt, khi mà DNNN đã hình thành và phát triển trong trong các ngành có tính "liên kết mạng", các lĩnh vực được nhà nước hỗ trợ hoặc được thanh toán cho việc cung cấp dịch vụ công, thì doanh nghiệp bên ngoài khó có thể chen vào chuỗi giá trị của DNNN. Hiện tượng này có bản chất của độc quyền và kìm hãm cạnh tranh.
Robert Z Lawrence (2014) tại Hội thảo quốc tế về Cải cách Kinh tế vì tăng trưởng bao trùm và bền vững - Kinh nghiệm Quốc tế và Bài học đối với 8 Việt Nam do Bộ Ngoại giao, UNDP tổ chức tháng 3/2014 tại Hà Nội cũng nhận định: DNNN hiện nay thường nhận được các ưu đãi thông qua vốn ngân sách chính phủ với chi phí thấp, ít chịu ảnh hưởng của những quy định thông thường, miễn giảm thuế và được tạo điều kiện khi ký các hợp đồng mua sắm. Nghiên cứu về giải pháp cải cách doanh nghiệp nhà nước UNIDO(2003),”Reforming State-Owned Enterprises: Lessons of International Experience, especially for the Least Developed Countries” First published September 2003. Công trình nghiên cứu này đã tổng kết các phương pháp cải cách DNNN trên thế giới và rút ra những phương pháp như sau: ✓ Thay đổi cơ cấu sở hữu (Tư nhân hoá, đa dạng hoá sở hữu DNNN) ✓ Cải cách khung khổ hoạt động (Cải thiện môi trường của các DNNN nhằm tăng cường động lực cho các DNNN hoạt động có hiệu quả hơn, tăng động lực và trách nhiệm vật chất; tăng quyền tự chủ; buộc DNNN đối mặt với cạnh tranh.) ✓ Cải cách quản trị doanh nghiệp (Cải thiện cơ chế giám sát các DNNN và quá trình tổ chức thực hiện chức năng chủ sở hữu vốn đầu tư của Nhà nước) ✓ Cơ cấu lại (Thay đổi cơ cấu tổ chức quản lý và hoạt động; giữ nguyên cơ cấu sở hữu nhưng thay đổi cơ cấu quản lý). ✓ Giải thể phá sản (Chấm dứt pháp nhân DNNN và bán toàn bộ tài sản cho những người sử dụng khác) [138].
Cũng theo WB(2012), “ Vietnam Development Report 2012” các giải pháp cải cách DNNN cần thực hiện là: Disclose, Regulate, Equitize, Accountable, and Monitor (DREAM) [140]. Các công trình nghiên cứu về kinh tế thị trường Tran Van Tho (2014). “Vietnamese Gradualism in Reforms of the State- Owned Enterprises”. Waseda University, Tokyo.
Vietnam Asia-Pacific Economic Center (VAPEC). Tại công trình nghiên cứu này, tác giả Trần Văn Thọ đã tổng kết được kết quả của tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam giai đoạn 2011-2013 và đặt ra câu hỏi: Có phải DNNN đang kéo lùi tốc độ cải cách kinh tế của Việt Nam? Để trả lời câu hỏi này, tác giả đã phân tích vị trí của DNNN trong nền kinh tế, cấu trúc ngành nghề mà DNNN nắm giữ, kết quả 9 hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN trên các lĩnh vực nắm giữ tương ứng. Thông qua phân tích, tác giả đánh giá hai hướng tái cơ cấu DNNN của Việt Nam là: Tái cơ cấu mà không có sự tư nhân hóa, và hướng tái cơ cấu theo hướng tư nhân hóa, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm về tái cơ cấu doanh nghiệp của Việt Nam. “Chính sách cạnh tranh quốc tế: Duy trì thị trường mở trong nền kinh tế toàn cầu”, Cheltenham- Northampton: Edward Elga).
Cuốn sách trình bày những nét cơ bản về cạnh tranh và các chính sách thươg mại. Những tác động của toàn cầu hòa thị trường đến doanh nghiệp, chống phá giá, chống độc quyền. Phân tích những khó khăn phát sinh do có sự hạn chế và bó buộc hợp tác, phân tích thống kê giá cả của các công ty có uy tín và liên doanh, liên kết quốc tế [127]. Trong cuốn sách này, tác giả đã cho chúng ta thấy những thách thức mà doanh nghiệp, đặc biệt là DNNN phải đối mặt và cần phải thay đổi để phù hợp với thị trường mở cửa và hoạt động theo thông lệ quốc tế.