Tổng quan luận án

Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, khu vực kinh tế nhà nước, trong đó nòng cốt là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước, đã đóng góp vào các thành tựu tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm tại Việt Nam. Về mặt chính sách, các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) luôn nhận được sự ưu tiên đầu tư và phân bổ nguồn lực từ các cơ quan quản lý với kỳ vọng tạo động lực lan tỏa và định hướng nền kinh tế. Mặc dù vậy, tỷ trọng đóng góp của khu vực DNNN vào GDP chỉ đạt khoảng 28%, thấp hơn khu vực kinh tế tư nhân (trên 40%) và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (khoảng 20,1%). Cơ chế quản lý đối với DNNN còn bộc lộ nhiều bất cập như đầu tư dàn trải, kỷ luật tài chính chưa nghiêm, thiếu trách nhiệm giải trình và tính công khai, minh bạch, cùng với cơ cấu quản trị chậm đổi mới so với nguyên tắc của kinh tế thị trường.

Nhằm giải quyết các bất cập này, Đảng và Chính phủ đã ban hành các chủ trương, đề án trọng điểm như Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012 phê duyệt Đề án tái cơ cấu DNNN trọng tâm là tập đoàn, tổng công ty nhà nước và Quyết định số 707/QĐ-TTg năm 2017 phê duyệt Đề án cơ cấu lại DNNN giai đoạn 2016-2020. Tuy nhiên, kết quả thực hiện trên thực tế vẫn chậm và chưa đạt mục tiêu đề ra. Tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn kéo dài; chất lượng đề án tái cơ cấu chưa cao; chính sách xác định giá trị quyền sử dụng đất khi cổ phần hóa còn vướng mắc; năng lực cạnh tranh và hiệu quả sử dụng nguồn lực của DNNN còn thấp; tình trạng thất thoát, tiêu cực và lợi ích nhóm còn diễn biến phức tạp. Vì vậy, việc đánh giá toàn diện công tác tái cơ cấu DNNN trong tiến trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường từ năm 2011 đến nay nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho giai đoạn tiếp theo là lý do tác giả lựa chọn đề tài luận án tiến sĩ kinh tế.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các công trình đã công bố trước đây chưa đặt yêu cầu đổi mới, tái cơ cấu DNNN một cách toàn diện trong mối quan hệ gắn liền với tiến trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường tại Việt Nam; chưa phân tích sâu các yếu tố thể chế tác động tới quá trình tái cơ cấu; chưa làm rõ tác động tiêu cực của việc xác định chức năng, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước đến cải cách thể chế kinh tế thị trường, mức độ cản trở cạnh tranh đối với khu vực tư nhân, cũng như sự phân biệt đối xử trên thực tế giữa DNNN và các thành phần kinh tế khác.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là cung cấp những luận cứ khoa học và căn cứ thực tiễn để hoàn thiện chính sách, nâng cao chất lượng tổ chức thực hiện tái cơ cấu DNNN trong tiến trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường ở Việt Nam.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án được xác định bao gồm:

  1. Cơ sở lý luận về tái cơ cấu DNNN trong tiến trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường bao gồm những nội dung, phương thức và các yếu tố tác động nào?
  2. Thực trạng tái cơ cấu DNNN tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đã đạt được những kết quả gì, tồn tại những hạn chế nào và nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế đó là gì?
  3. Bối cảnh mới và các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước đặt ra những yêu cầu, quan điểm, định hướng và giải pháp cụ thể nào nhằm thúc đẩy tái cơ cấu DNNN giai đoạn 2021-2030?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước trong tiến trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường.
  • Phạm vi về không gian: Hệ thống doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam.
  • Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu thực trạng giai đoạn 2011-2020; các quan điểm, định hướng và giải pháp được đề xuất cho giai đoạn 2021-2030.
  • Phạm vi về nội dung: Luận án tập trung vào 3 nội dung chính của tái cơ cấu gồm định vị lại vai trò của DNNN, cơ cấu lại danh mục tài sản nhà nước tại doanh nghiệp (cổ phần hóa, thoái vốn, bán doanh nghiệp) và tái cấu trúc quản trị DNNN; luận án không đi sâu vào tái cơ cấu công nghệ, sản phẩm và lao động nội bộ của từng doanh nghiệp cụ thể.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan các công trình nghiên cứu ngoài nước:

  • Về vai trò và sứ mệnh của DNNN: Báo cáo của OECD (2005a) chỉ ra DNNN được thành lập để phục vụ các mục tiêu chính trị và kinh tế của Nhà nước, từng có vai trò trong việc gánh vác các ngành đòi hỏi vốn lớn hoặc hỗ trợ rủi ro xã hội, nhưng sau đó nhiều trường hợp trở thành gánh nặng chi phí, mở ra trào lưu tư nhân hóa từ những năm 1960 tại Đức và thập niên 1980 tại Anh và các nước OECD. Kevin R. Kosar (2011) và báo cáo của GAO (1995) phân tích mục tiêu thành lập DNNN cấp liên bang ở Hoa Kỳ là cung cấp dịch vụ công có bản chất kinh doanh theo định hướng thị trường với số lượng hiện nay còn rất ít (17 doanh nghiệp). UNIDO (2003) phân tích vai trò của DNNN tại các nước đang phát triển trong giai đoạn 1950-1960 và nguyên nhân dẫn đến hiệu quả kém trong những thập niên tiếp theo. Eslie Cohen (1997) phân tích các hạn chế của Nhà nước trong vai trò cổ đông và phản đối việc bao cấp, đầu tư dàn trải.
  • Về mối quan hệ giữa Nhà nước với DNNN và phân bổ nguồn lực: Báo cáo của OECD (2011) và nhận định của Robert Z. Lawrence (2014) tại hội thảo của UNDP/Bộ Ngoại giao chỉ ra rằng các ưu đãi về vốn ngân sách, tín dụng, thuế và mua sắm công dành cho DNNN đã tạo ra độc quyền mạng lưới và kìm hãm cơ hội gia nhập thị trường của khu vực tư nhân.
  • Về giải pháp cải cách DNNN: UNIDO (2003) tổng kết 5 phương pháp cải cách trên thế giới gồm: thay đổi cơ cấu sở hữu; cải cách khung khổ hoạt động; cải cách quản trị doanh nghiệp; cơ cấu lại tổ chức quản lý; và giải thể, phá sản. Ngân hàng Thế giới (WB, 2012) đề xuất khung giải pháp DREAM: Disclose (Công khai), Regulate (Quy định), Equitize (Cổ phần hóa), Accountable (Trách nhiệm giải trình) và Monitor (Giám sát).
  • Về kinh tế thị trường: Trần Văn Thọ (2014) phân tích kết quả tái cơ cấu DNNN Việt Nam giai đoạn 2011-2013, so sánh giữa hướng tái cơ cấu không có tư nhân hóa và tái cơ cấu theo hướng tư nhân hóa. Tài liệu của Edward Elgar (2014) phân tích các chính sách duy trì cạnh tranh và chống độc quyền trong nền kinh tế toàn cầu.

Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước:

  • Về khái niệm và sự cần thiết tái cơ cấu: Nguyễn Đình Cung và nhóm tác giả (2013) rà soát sự thay đổi của khái niệm DNNN qua các văn bản pháp luật từ trước năm 1995 đến Luật Doanh nghiệp. Đỗ Tiến Long (2013) nghiên cứu mô hình tái cơ cấu dưới góc độ tư vấn và vai trò của người lãnh đạo. Nguyễn Kim Đức (2013) tiếp cận tái cơ cấu từ góc độ thẩm định giá trị doanh nghiệp. Phạm Hồng Mạnh (2010) đề xuất quy trình 5 bước tái cấu trúc tập đoàn kinh tế nhà nước. Nguyễn Phúc Hưởng (2013) xây dựng khung lý thuyết gồm 10 biến và 13 vấn đề đặt ra khi tái cấu trúc DNNN ngành xây dựng (nghiên cứu trường hợp Vinaconex).
  • Về vai trò và đánh giá phân bổ nguồn lực: MPI (2012) rà soát các văn kiện Đảng từ năm 1995 về chức năng của DNNN. Bảo Duy (2018) chỉ ra DNNN không còn giữ vị trí dẫn dắt nền kinh tế. Báo cáo của Fulbright và Harvard Kennedy (2008) phân tích sự lãng phí từ cơ chế quản lý đầu tư lỏng lẻo đối với các tập đoàn nhà nước. Nguyễn Văn Thắng và Nick J. Freeman (2008) chỉ ra mối liên hệ giữa sự thiên vị DNNN tại các địa phương với mức tăng trưởng GDP thấp hơn. B-WTO (2007) so sánh khung chính sách với các cam kết WTO về DNNN. Nguyễn Minh Phong (2013, 2014) dẫn chứng các số liệu tài chính, quy mô nợ và đề xuất hạ tỷ trọng DNNN trong GDP xuống mức 10-15%.
  • Về thực trạng và giải pháp cải cách: Các báo cáo của MPI (2011, 2012, 2013), CIEM-WB (2002, 2005), Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp (2014); các luận án tiến sĩ của Lê Hồng Anh (2010), Phan Thị Thùy Linh (2017), Dương Đức Tâm (2016), Nguyễn Hoàng Mạnh (2016), Nguyễn Tuấn Đạt (2016), Vũ Thị Như Quỳnh (2020), Huỳnh Thị Cẩm Hà (2020), Hoàng Tuấn (2016); cùng các công trình của Phùng Thị Phương Anh (2018), Phạm Đức Trung (2018), Lê Hường (2019), Trần Tiến Cường (2005), Võ Trí Thành (2011).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:

  1. Chưa có công trình phân tích có tính hệ thống việc tái cơ cấu DNNN đặt trong yêu cầu vận hành đồng bộ của tiến trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
  2. Chưa làm rõ các yếu tố chính trị, pháp luật, năng lực cán bộ và cam kết quốc tế tác động đa chiều tới quá trình tái cơ cấu DNNN.
  3. Chưa đánh giá sâu sắc các biểu hiện phân biệt đối xử, tình trạng độc quyền nhà nước chuyển hóa thành độc quyền doanh nghiệp và tác động của cơ chế bảo lãnh tín dụng đối với môi trường cạnh tranh.
  4. Chưa xác định rõ ràng sứ mệnh, phạm vi hoạt động của các nhóm DNNN còn lại sau khi đã cổ phần hóa dựa trên các chuẩn mực quốc tế và nguyên tắc thị trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích:

  • Luận án hệ thống hóa các định nghĩa về DNNN qua các thời kỳ lập pháp tại Việt Nam: Sắc lệnh số 104/SL ngày 01/01/1948 ("doanh nghiệp quốc gia"); Nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991; Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995; Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 (nắm giữ từ trên 50% đến 100% vốn điều lệ); Luật Doanh nghiệp năm 2005; Luật Doanh nghiệp năm 2014 (quy định hẹp là 100% vốn điều lệ); và Nghị quyết số 12-NQ/TW năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.
  • Luận án xác định khái niệm sử dụng xuyên suốt: "DNNN là doanh nghiệp do nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ để chi phối hoạt động của doanh nghiệp theo mục tiêu của Nhà nước, trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc thị trường".
  • Khung phân tích (Hình 1.1) và khung khổ tái cơ cấu khu vực DNNN (Hình 2.1) được thiết lập dựa trên 3 nội dung cốt lõi:
    • (i) Định vị lại vai trò của DNNN: Xác định rõ phạm vi ngành, lĩnh vực cần duy trì sự hiện diện của Nhà nước (an ninh, quốc phòng; độc quyền tự nhiên; dịch vụ công ích thiết yếu; công nghệ nền tảng).
    • (ii) Cơ cấu lại danh mục tài sản nhà nước tại doanh nghiệp: Bố trí lại nguồn lực thông qua cổ phần hóa, bán doanh nghiệp, thoái vốn nhà nước và chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu về SCIC.
    • (iii) Tái cấu trúc quản trị DNNN: Tách bạch chức năng chủ sở hữu và chức năng quản lý nhà nước, áp dụng chuẩn mực quản trị theo thông lệ OECD, tăng cường tính minh bạch, kỷ luật tài chính và trách nhiệm giải trình.
  • Các yếu tố tác động tới tái cơ cấu gồm: Yếu tố chính trị; Chính sách, pháp luật; Năng lực của cán bộ, công chức và người quản lý doanh nghiệp; Hội nhập kinh tế quốc tế.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp phân tích thực chứng thể chế.
  • Phương pháp cụ thể: Phân tích và tổng hợp tài liệu văn kiện của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật; phương pháp lịch sử và logic để theo dõi tiến trình chính sách; phương pháp so sánh đối chiếu giữa thực trạng Việt Nam và thông lệ quốc tế (OECD, WB, WTO, CPTPP); phương pháp thống kê mô tả nhằm tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo chính thức.

Nguồn tư liệu và dữ liệu:

  • Số liệu thống kê từ Tổng cục Thống kê (GSO) về hệ thống doanh nghiệp Việt Nam.
  • Báo cáo và đề án của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI), Bộ Tài chính, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp.
  • Báo cáo phân tích của Ngân hàng Thế giới (World Bank), OECD, UNIDO, UNDP, B-WTO.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước trong tiến trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường và hướng nghiên cứu của luận án

Chương này tổng kết hệ thống tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến DNNN và tái cơ cấu DNNN. Tác giả phân chia các công trình thành các nhóm chủ đề: vai trò và sứ mệnh của DNNN; mối quan hệ giữa Nhà nước và DNNN trong phân bổ nguồn lực; các giải pháp và kết quả cải cách DNNN; các nghiên cứu về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở chỉ ra những điểm đã được làm rõ và 4 nhóm vấn đề còn bỏ trống, chương 1 xác lập mục tiêu nghiên cứu, 3 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và xây dựng khung phân tích của luận án (Hình 1.1).

Chương 2: Cơ sở lý luận về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước trong tiến trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường

Chương 2 luận giải các vấn đề lý luận nền tảng về DNNN: quá trình phát triển khái niệm từ Sắc lệnh 104/SL năm 1948 đến Luật Doanh nghiệp 2014 và Nghị quyết 12-NQ/TW năm 2017; các đặc điểm về sở hữu, hình thức tổ chức (công ty TNHH, công ty cổ phần), lĩnh vực hoạt động, mục tiêu và trách nhiệm pháp lý. Tác giả phân tích 5 vai trò then chốt của DNNN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN (giữ vị trí then chốt ở lĩnh vực thiết yếu; cung ứng dịch vụ công ích; dẫn dắt các thành phần kinh tế khác; đóng góp ngân sách/GDP; giải quyết việc làm). Tiếp đó, chương 2 làm rõ tác động của các quy luật kinh tế thị trường (cạnh tranh, giá cả, cung cầu) buộc DNNN phải tái cơ cấu. Tác giả xây dựng khung khổ tái cơ cấu gồm 3 trụ cột chính (Hình 2.1) và phân tích 4 nhóm yếu tố tác động (chính trị; chính sách pháp luật; năng lực bộ máy; hội nhập quốc tế). Cuối chương, tác giả phân tích kinh nghiệm cải cách DNNN của CHLB Đức, Hoa Kỳ, các nước OECD và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về phân định vai trò chủ sở hữu, áp dụng kỷ luật thị trường và quản trị công khai.

Chương 3: Thực trạng tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước trong tiến trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020

Chương 3 phân tích thực trạng hệ thống DNNN và việc triển khai các đề án tái cơ cấu theo Quyết định 929/QĐ-TTg và Quyết định 707/QĐ-TTg. Về quy mô và hiệu quả, số lượng DNNN có xu hướng giảm nhưng vẫn nắm giữ tỷ trọng tài sản lớn; hiệu suất sinh lời và tỷ lệ hoàn vốn giảm mạnh so với bình quân toàn ngành doanh nghiệp.

Bảng tổng hợp một số dữ liệu tài chính và quy mô của khu vực DNNN được ghi nhận trong luận án:

Chỉ tiêu / Tiêu chí Số liệu ghi nhận trong văn bản luận án Nguồn trích dẫn trong luận án
Tỷ trọng đóng góp vào GDP Khoảng 28% GDP (Khu vực tư nhân >40%, FDI ~20,1%) Phần Mở đầu luận án
Tỷ trọng nắm giữ nguồn lực kinh doanh Nắm 37,2% nguồn vốn; 44,8% tài sản cố định & đầu tư dài hạn Tổng cục Thống kê (GSO)
Đóng góp ngân sách và lao động Tạo ra 37,8% lợi nhuận trước thuế; đóng góp 37,4% nộp ngân sách; tạo 19,5% việc làm Tổng cục Thống kê (GSO)
Tổng số nợ phải trả của 127 tập đoàn, TCT năm 2012 1.752 nghìn tỷ đồng (xấp xỉ 62-63 tỷ USD, chiếm ~50% GDP cả nước; bằng 78,9% doanh thu năm 2012; vượt 132% vốn CSH) Nguyễn Minh Phong (2014)
Nợ vay ngân hàng và nợ nước ngoài (2012) Nợ vay NHTM: 402.955 tỷ đồng (1/3 tổng dư nợ nền kinh tế); Vay nợ nước ngoài: 315.851 tỷ đồng (2/3 là ODA Chính phủ bảo lãnh) Nguyễn Minh Phong (2014)
Hệ số nợ phải trả / Vốn CSH bình quân (2012) Bình quân 1,46 lần; có 48 đơn vị có tỷ lệ gấp 3 lần trở lên Nguyễn Minh Phong (2014)
Tỷ lệ hoàn vốn trung bình DNNN năm 2000 so với toàn ngành DNNN đạt 1,6 (toàn khu vực doanh nghiệp đạt 8,8) WB (2012)
Tỷ lệ hoàn vốn trung bình DNNN năm 2009 so với toàn ngành DNNN giảm xuống 1,1 (toàn khu vực doanh nghiệp tăng lên 21,0) WB (2012)
Tỷ trọng các nguồn lực năm 2000 Chiếm 68% vốn, 55% tài sản cố định, 45% tín dụng, 59% việc làm khu vực DN WB (2012)

Thực trạng triển khai 3 trụ cột tái cơ cấu:

  • Định vị lại vai trò: Ban hành tiêu chí phân loại DNNN theo Quyết định 58/2016/QĐ-TTg, thu hẹp diện doanh nghiệp nắm giữ 100% vốn (Hình 3.1).
  • Cơ cấu danh mục tài sản: Đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn ngoài ngành chính, chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước về SCIC (Hình 3.2).
  • Tái cấu trúc quản trị: Từng bước tách chức năng chủ sở hữu khỏi chức năng quản lý hành chính nhà nước, thành lập Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Đánh giá chung:

  • Kết quả đạt được: Giảm số lượng DNNN 100% vốn, thu hồi nguồn vốn lớn cho ngân sách, xóa bỏ dần các bao cấp trực tiếp, bước đầu hình thành cơ chế đại diện vốn chuyên trách.
  • Hạn chế: Tốc độ cổ phần hóa và thoái vốn không đạt kế hoạch; tỷ lệ vốn bán ra cho khu vực tư nhân còn thấp; hiệu quả kinh doanh chưa tương xứng; nợ xấu và thua lỗ tại một số dự án lớn; cơ chế quản trị chậm áp dụng chuẩn mực quốc tế; công tác định giá quyền sử dụng đất gây nghẽn tiến độ.
  • Nguyên nhân: Nhận thức chưa đầy đủ về kinh tế thị trường, vướng mắc pháp luật chồng chéo, trách nhiệm của người đứng đầu chưa cao, sự can thiệp hành chính kéo dài và ảnh hưởng của lợi ích cục bộ.

Chương 4: Phương hướng và giải pháp tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước trong tiến trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường tại Việt Nam giai đoạn 2021-2030

Chương 4 phân tích bối cảnh phát triển giai đoạn 2021-2030, tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và các cam kết hội nhập thế hệ mới (CPTPP, EVFTA). Tác giả làm rõ các định hướng của Đảng theo Nghị quyết số 12-NQ/TW và xác lập hệ thống quan điểm tái cơ cấu: vận hành DNNN theo cơ chế thị trường; bình đẳng và không phân biệt đối xử; lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo chủ yếu; xây dựng khuôn khổ thống nhất cho quản trị DNNN (Hình 4.1).

Các nhóm giải pháp đề xuất bao gồm:

  • Nhóm giải pháp từ phía Nhà nước: Hoàn thiện thể chế pháp luật về quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp; sửa đổi quy định định giá quyền sử dụng đất khi cổ phần hóa theo giá trị thị trường; củng cố mô hình cơ quan chuyên trách làm đại diện chủ sở hữu vốn (Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp và SCIC) nhằm tách bạch hoàn toàn chức năng chủ sở hữu với chức năng quản lý nhà nước; xóa bỏ triệt để các ưu đãi tín dụng, bảo lãnh vay vốn không đúng nguyên tắc thị trường; tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm sai phạm, tham nhũng.
  • Nhóm giải pháp từ phía doanh nghiệp nhà nước: Áp dụng các nguyên tắc quản trị hiện đại theo hướng dẫn của OECD; thực hiện kiểm toán độc lập bắt buộc và công khai minh bạch báo cáo tài chính; chuyên nghiệp hóa đội ngũ Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị và Ban điều hành thông qua cơ chế tuyển dụng, thuê tổng giám đốc trên thị trường; tách bạch rõ ràng giữa chi phí thực hiện nhiệm vụ chính trị - công ích và hoạt động sản xuất kinh doanh thương mại.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Làm sáng tỏ nội hàm khái niệm doanh nghiệp nhà nước phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (như CPTPP), xác định DNNN theo tiêu chí nắm giữ trên 50% vốn điều lệ để thực hiện quyền chi phối dựa trên tư cách phiếu bầu của nhà đầu tư thay vì can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính.
  • Hệ thống hóa khung lý luận về tái cơ cấu DNNN trong nền kinh tế chuyển đổi bao gồm 3 nội dung gắn kết hữu cơ: định vị lại vai trò, cơ cấu lại danh mục tài sản nhà nước (thay đổi sở hữu) và tái cấu trúc quản trị doanh nghiệp.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bức tranh đánh giá thực trạng tái cơ cấu DNNN giai đoạn 2011-2020 dựa trên số liệu thống kê cụ thể về tài chính, lao động, nợ phải trả và hiệu quả sử dụng vốn; chỉ ra những điểm nghẽn về thể chế định giá đất đai và xung đột vai trò quản lý.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2021-2030 cho cả cơ quan quản lý nhà nước và bản thân DNNN, trọng tâm là phân định dứt điểm chức năng quản lý vĩ mô của bộ máy hành chính với chức năng đại diện chủ sở hữu vốn đầu tư, áp dụng chuẩn mực quản trị OECD và thúc đẩy môi trường cạnh tranh bình đẳng với khu vực tư nhân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở cấp độ thể chế, chính sách vĩ mô và mô hình quản lý của chủ sở hữu nhà nước; không nghiên cứu sâu các hoạt động tái cấu trúc nội bộ về công nghệ, dây chuyền kỹ thuật và cơ cấu lao động chi tiết tại từng đơn vị doanh nghiệp cụ thể.
  • Phạm vi dữ liệu đánh giá thực trạng chủ yếu tập trung đến hết năm 2020 theo chu kỳ kế hoạch tái cơ cấu giai đoạn 2011-2020.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Nghiên cứu, đánh giá sâu hiệu quả vận hành của mô hình Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp và SCIC trong giai đoạn sau năm 2020.
  • Đi sâu nghiên cứu cơ chế tái cấu trúc tài chính, xử lý kiệt quệ tài chính gắn với chu kỳ sống của các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn thuộc diện sắp xếp trong giai đoạn mới.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho các đối tượng và mục đích sau:

  • Cơ quan hoạch định chính sách và quản lý nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp, Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp): Tham khảo các đánh giá thực trạng tại Chương 3 và các đề xuất hoàn thiện khung khổ pháp lý, cơ chế định giá đất đai, phân định chức năng chủ sở hữu tại Chương 4.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế học: Tham khảo khung tổng quan tài liệu (Chương 1) và cơ sở lý luận về tái cơ cấu DNNN trong nền kinh tế chuyển đổi (Chương 2).
  • Ban lãnh đạo, người đại diện vốn tại các tập đoàn, tổng công ty và DNNN: Tham khảo các tiêu chuẩn quản trị công ty theo thông lệ OECD và các định hướng tái cấu trúc hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc thị trường.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả luận án định nghĩa Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) như thế nào?
Luận án quan niệm: "DNNN là doanh nghiệp do nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ để chi phối hoạt động của doanh nghiệp theo mục tiêu của Nhà nước, trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc thị trường". Định nghĩa này tiếp cận theo tỷ lệ sở hữu vốn chi phối để đảm bảo Nhà nước can thiệp thông qua tư cách phiếu bầu của nhà đầu tư, phù hợp với tinh thần Nghị quyết 12-NQ/TW và các cam kết quốc tế như CPTPP.

2. Ba nội dung cốt lõi của tái cơ cấu DNNN được xác định trong luận án là gì?
Ba nội dung cốt lõi gồm: (1) Định vị lại vai trò của DNNN trong nền kinh tế, tập trung vào ngành then chốt, độc quyền tự nhiên và dịch vụ công ích thiết yếu; (2) Cơ cấu lại danh mục tài sản nhà nước tại doanh nghiệp thông qua cổ phần hóa, thoái vốn và chuyển giao quyền tài sản; (3) Tái cấu trúc quản trị DNNN theo chuẩn mực quốc tế, tách bạch chức năng chủ sở hữu và chức năng quản lý nhà nước.

3. Số liệu nợ của khối tập đoàn, tổng công ty nhà nước năm 2012 được luận án ghi nhận như thế nào?
Theo số liệu từ Nguyễn Minh Phong (2014) được luận án trích dẫn, năm 2012 có 127 tập đoàn, tổng công ty nhà nước với tổng số nợ phải trả là 1.752 nghìn tỷ đồng (xấp xỉ 62-63 tỷ USD, tương đương gần 50% GDP cả nước, bằng 78,9% doanh thu năm 2012 và vượt 132% vốn chủ sở hữu). Trong đó, nợ vay ngân hàng thương mại là 402.955 tỷ đồng và vay nợ nước ngoài là 315.851 tỷ đồng (2/3 là ODA được Chính phủ bảo lãnh).

4. Mô hình DREAM của Ngân hàng Thế giới (WB, 2012) được luận án trích dẫn bao gồm các giải pháp nào?
Mô hình DREAM gồm 5 trụ cột: Disclose (Công khai thông tin), Regulate (Hoàn thiện quy định pháp lý), Equitize (Đẩy mạnh cổ phần hóa), Accountable (Nâng cao trách nhiệm giải trình) và Monitor (Tăng cường cơ chế giám sát).

5. Vướng mắc chính nào trong chính sách khiến tiến độ cổ phần hóa DNNN giai đoạn 2011-2020 bị chậm?
Văn bản luận án chỉ ra các vướng mắc chủ yếu xuất phát từ: cơ chế xác định giá trị quyền sử dụng đất khi cổ phần hóa; quy trình thẩm định giá trị doanh nghiệp phức tạp; khó khăn trong việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược; năng lực và trách nhiệm của người đứng đầu còn hạn chế; cùng với tình trạng né tránh trách nhiệm, sợ sai phạm và sự can thiệp của các lợi ích nhóm.

Kết luận

Luận án "Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước trong tiến trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường tại Việt Nam" đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về cải cách khu vực DNNN trong bối cảnh hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường. Thông qua việc phân tích dữ liệu thực trạng giai đoạn 2011-2020, công trình đã làm rõ những hạn chế về hiệu quả sử dụng nguồn lực, sự chậm trễ trong cổ phần hóa và những bất cập về mô hình quản trị. Các định hướng và giải pháp đề xuất cho giai đoạn 2021-2030 tập trung vào hoàn thiện thể chế, phân định rõ chức năng chủ sở hữu nhà nước và áp dụng các chuẩn mực quản trị hiện đại, tạo cơ sở để DNNN vận hành bình đẳng theo các nguyên tắc thị trường.