CHƯƠNG 1 THẲM ĐỊNH TÀI CHÍNH D ự ÁN ĐẦU T ư VÀ VẶN DỤNG LÝ THUYẾT RỦI RO TRONG THẢM ĐỊNH TÀI CHÍNH D ự ÁN ĐẦU T ư 1.1 LÝ THUYẾT VÈ RỦI RO 1.1 Khái niệm rủi ro và các nguyên nhân gây ra rủi ro 1.1 Khái niệm rủi ro dự ản Trên thực tế, luôn tồn tại những khả năng mà chúng ta không nghĩ tới, những sự việc mà chúng ta không tiên liệu và thông tin không có sẵn khi ta cần. Tất cả những việc không chắc chắn này tạo ra rủi ro. Chẳng hạn, khi ta tung ra thị trường một sản phẩm mới, ta không chắc chắn nó có bán chạy hay không, điều này có nghĩa là việc đầu tư vào sản phẩm mới bị rủi ro. Rủi ro là khả năng xảy ra sự khác biệt giữa kết quả thực tế và kết quả kỳ vọng theo kế hoạch.
Đối với nhiều người, sự không chắc chắn và rủi ro tạo ra lo lắng và bi quan, tuy nhiên đôi khi sự rủi ro đó lại gắn liền với những cơ hội. Đặc biệt, trong hoạt động đâu tư, khi mà xu hướng hội nhập đã mở ra cánh cửa rất lớn, thì một yêu cầu lớn của các nhà quản trị là phải đưa ra được các quyết định đầu tư đúng đắn. Rủi ro của dự án được hiểu một cách chung nhất là khả năng mà một sự kiện không có lợi nào đó xuất hiện. Các nhà đầu tư quan niệm rằng rủi ro của một khoản đầu tư xảy ra khi lợi tức thực tế thấp hơn so với lợi tức dự kiến.
Ví dụ có một khoản đầu tư dự kiến thu được lợi tức 10% nhưng trên thực tế chỉ thu được 6%, khi đó người ta nói rằng rủi ro đã xảy ra đối với khoản đầu tư này. Đối với một dự án, rủi ro của dự án trước hết cũng được nhìn nhận trên cơ sở lợi tức của dự án tạo ra trên thực tế so với mức lợi tức kỳ vọng. Tuy nhiên cũng cần thấy rằng lợi tức của dự án là chỉ tiêu tài chính cuối cùng nó chịu ảnh hưởng của nhiều yểu tố khách quan và chủ quan, giữa chúng có sự bù trừ cho nhau. Do vậy, người ta hoàn toàn có thể nghiên cún rủi ro của các yếu tố thành phần cấu thành lợi tức như doanh thu, sản lượng, chi phí.
Mặt khác, đối với dự án mà ngay cả khi lợi tức của dự án thu được không có sự khác biệt so với dự kiến, tức là dòng tiền của dự án không thay đổi thì vẫn có thể rủi ro xảy ra do tỷ suất chiết khấu thay đổi. Để nghiên cứu rủi ro xảy ra với dự án một cách chi tiết và sẵn sàng thích nghi với những biến đổi có thể có đồng thời tiên liệu và hạn chế các yếu tố bất định chúng ta bắt đầu tìm hiểu các nguyên nhân gây ra rủi ro cũng như phân loại các rủi ro xảy ra đối với dự án.2 Các nguyên nhân gây ra rủi ro. Như chúng ta đã biết, dự án là tác nhân thay đổi linh hoạt. Nhưng sự thay đổi mà dự án mang lại không phải là sự việc ngẫu nhiên, may rủi.
Trái lại, nó là kêt quả của chuỗi hành động được cân nhắc và ấn định trước. Đe tránh thất bại cho dự án, chúng ta cần lựa chọn cẩn thận, hiểu kỹ những rủi ro và tính không chắc chắn liên quan, đồng thời tìm ra bản chất, mức độ và nguồn gốc rủi ro. Những rủi ro ảnh hưởng đến dự án đầu tư có thể là sự thay đổi cơ chế, chính sách theo hướng không có lợi cho nhà đầu tư. Rủi ro có thể là sự biến động bất lợi của nhu cầu thị trường, của giá cả sản phẩm, thiên tai, chiến tranh cũng là những yếu tố gây rủi ro cho hoạt động đầu tư.
Xem xét nguyên nhân của rủi ro là một trong những cơ sở để các nhà quản trị có biện pháp phòng ngừa rủi ro. Một số nguyên nhân cơ bản gây ra rủi ro cho dự án như sau: Thứ nhất, do biến động của điều kiện sản xuất: thiên tai, mưa bão, lũ lụt, hạn hán, động đất. Thứ hai, do biến động bất lợi của thị trường, gây khó khăn cho nhà sản xuất kinh doanh như: giá cả hàng hoá tăng, giảm, biến động tỷ giá ngoại tệ, lạm phát kinh tế, chiến tranh khu vực, dịch bệnh. Thứ ba, do có sự điều chỉnh, bổ sung của các cơ chế, chính sách quốc gia hoặc của ngành: như thuế, các luật thuế, các chính sách về pháp luật.gây ra sự chưa tương ứng hoặc chưa chuyển hoá kịp các quy định mới.
Thứ tư, do sự thiếu vắng một số định chế trong quản lý kinh tế tạo khe hở trong quá trình sản xuất hoặc đầu tư.2 Phân loại và nhận dạng rủi ro. Nhận dạng và phân loại rủi ro là bước khởi đầu quan trọng trong quản trị rủi ro. Nó cho biết một danh sách tương đối đầy đủ về các rủi ro có thể xảy ra đổi với một dự án. Nhận dạng rủi ro là thu thập các thông tin đầy đủ về nguồn gốc của rủi ro, các yếu tố hiểm hoạ và nguy cơ rủi ro để từ đó đưa ra một danh sách các rủi ro mà dự án phải chịu, danh sách này càng đầy đủ càng giúp cho việc đo lường rủi ro càng hiệu quả.
Trên thực tế, thường khó có thể xác định được hết các rủi ro của dự án nên không thể có các biện pháp quản lý đối với các rủi ro chưa được phát hiện, do đó đã vô tình giữ lại các rủi ro này, vì vậy việc nhận dạng các rủi ro có hệ thống là hết sức cần thiết. Một số phương pháp nhận dạng rủi ro đã được áp dụng có hiệu quả như: - Sử dung bảng liệt kê - Phưong pháp lưu đồ 3 - Phương pháp thanh tra hiện trường Sau công đoạn nhận dạng rủi ro, một bảng liệt kê tưong đối đầy đủ các rủi ro có thể xảy ra đối với dự án được hình thành, trên cơ sở đó cần phân loại rủi ro theo tiêu chí cụ thề để có biện pháp đánh giá phù hợp.1 R ủi ro không hệ thống 1. Khái niệm Rủi ro không hệ thống là rủi ro chỉ tác động đến một tài sản hoặc một nhóm nhỏ các tài sản, điều đó có nghĩa là loại rủi ro này chỉ liên quan đến từng tài sản cụ thể, dự án cụ thê và từng doanh nghiệp cụ thể. Rủi ro không hệ thống bao gồm rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính.
Rủi ro kinh doanh: Trong quá trình kinh doanh, định mức thực tế không đạt được như theo kế hoạch gọi là rủi ro kinh doanh. Rủi ro kinh doanh được cấu thành bởi yếu tố bên ngoài và yếu tố nội tại trong công ty. Rủi ro nội tại phát sinh trong quá trình công ty hoạt động. Rủi ro bên ngoài bao gồm nhũng tác động nằm ngoài sự kiếm soát của công ty làm ảnh hưởng đến tình trạng hoại động của công ty như sự cạnh tranh, sản phẩm thay thế,.
liên quan đến thị trường sản phẩm của công ty. Rủi ro kinh doanh bao gồm: rủi ro công nghệ, sản phẩm thay thế, nhu cầu thị trường, hoạt động của đối thủ cạnh tranh. Chẳng hạn, doanh nghiệp tiến hành đầu tư và nghiên cứu sản xuất sản phẩm mới, tuy nhiên liệu công nghệ sản xuất doanh nghiệp lựa chọn có bị lồi thời, sản phẩm sản xuất ra có đáp ứng được nhu cầu thị trường, có khả năng bị thay thể bởi sản phẩm khác hay bị các đối thủ cạnh tranh đè bẹp hay không?.Tất cả những điều đó sẽ ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ sản phẩm, dẫn đến thua lỗ. Rủi ro tài chính: Rủi ro tài chính liên quan đến các thiệt hại có thể xảy ra trong thị trường tài chính.
Rủi ro tài chính bao gồm rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá hối đoái, rủi ro lạm phát. Những rủi ro này phát sinh do sự biến động của các chỉ tiêu trên cao hơn so với xu hướng dự kiển, sự biển động này nhìn chung gây ra rủi ro rất lớn cho dự án, ví dụ như sẽ làm việc lựa chọn tỷ suất chiết khấu bị sai lệch, lãi vay ngân hàng tăng cao, chi phí nhập khẩu nguyên liệu tăng cao. điều này làm tăng chi phí và giảm hiệu quả của dự án. Phương pháp biếu diễn * S ử dụng độ lệch chuẩn.
Như chúng ta đã biết việc bỏ vốn đầu tư mục đích là mong muốn thu được lợi nhuận trong tương lai. Tuy nhiên, mức sinh lời của một dự án đầu tư đem lại trong tương lai đó vẫn là một điều không ai biết chắc chắn. Do vậy người ta xem tỷ suất sinh lời trong tương lai là một biến ngẫu nhiên hay một đại lượng ngẫu nhiên. Dựa vào lý thuyết về xác suất ta có thể xác định được phân phối xác suất của đại lượng 4 ngẫu nhiên đó.
Trên cơ sở đó ta tính được kỳ vọng, phương sai và độ lệch chuẩn của đại lượng ngẫu nhiên. Kỳ vọng của đại lượng ngẫu nhiên được xem là tỷ suất sinh lời mong đời của dự án đầu tư. K = ỵ P , x K , i= 1 K : Tỷ suất sinh lời bình quân của dự án Ki: Tỷ suất sinh lời tương ứng với từng điều kiện Pi: Khả năng xảy ra từng điều kiện (Xi) i = \,n: Tổng số khả năng xảy ra. Phương sai của đại lượng ngẫu nhiên, đặc trưng cho sự tập trung hay phân tán của các giá trị của đại lượng ngẫu nhiên so với kỳ vọng của nó.
D = ± P :( K , - K ) 2 i=1 Độ lệch chuấn của đại lượng ngẫu nhiên ký hiệu và được tính như sau: <5= V ỡ o ổ 2= 2] (Kị-K)2p i=1 Tuy nhiên việc xác định tỷ suất sinh lời dự kiến của từng dự án là việc làm tương đối phức tạp, và người ta thường dựa vào các tài liệu quá khứ là chủ yếu. Bên cạnh đó khi thời gian dự báo dài thì người ta thường lựa chọn Pi = 1/n. Và khi đó phương sai của mẫu sẽ là: s 2= Với: 1 JL K = -± K 7= 1 Độ lệch chuấn là mức phân tán trung bình của các giá trị có thể có xung quanh vọng toán của chúng. Nó cũng phản ánh độ tập trung hay phân tán của các giá trị có thể có của đại lượng ngẫu nhiên so với vọng toán.
Khi ta xem đại lượng ngẫu nhiên là tỷ suất sinh lời của dự án đầu tư thì độ lệch chuẩn biểu thị mức độ rủi ro của dự án đó.