Chương 1: BETA TRONG ĐO LƯỜNG RỦI RO ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU NGẮN HẠN 1. Tổng quan về rủi ro và các lý thuyết rủi ro trong tài chính doanh nghiệp hiện đại Hoạt động đầu tư được xem là sự luân chuyển vốn trong một khoảng thời gian nhất định để đạt được tỷ suất sinh lợi mong đợi. Do đó, nhà đầu tư mong muốn việc đầu tư có khả năng sinh lời, hơn hết là sự đảm bảo nguồn vốn. Tuy nhiên, hai yếu tố này luôn bị tác động bởi rủi ro.
Vậy nên, nhà đầu tư cần phải xem xét vấn đề rủi ro trước khi ra quyết định đầu tư. Rủi ro là gì? Rủi ro là những điều không chắc chắn của những kết quả trong tương lai hoặc những sự cố xảy ra có kết quả sai khác với giá trị kì vọng. Nói cách khác, rủi ro gây ra sự tổn thất hoặc lợi ích mà ta không thể tiên đoán được. Trong đầu tư tài chính, rủi ro được hiểu là những biến động thị trường, biến động giá chứng khoán.
Một vài yếu tố ảnh hưởng đến sự biến động như: chính sách điều tiết của chính phủ, tình hình kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước, sự ổn định về chính trị của quốc gia,…Ngoài ra, xu hướng thay đổi giá chứng khoán còn tuỳ thuộc rất nhiều vào tâm lý nhà đầu tư và đánh giá thị trường tại thời điểm xem xét. Phân loại rủi ro 1.Rủi ro hệ thống (Systematic Risk): Rủi ro hệ thống còn đư ợc gọi là rủi ro thị trường (Market risk) hay rủi ro không thể đa dạng hoá được (Undiversifiable risk). Rủi ro này là sự biến động lợi nhuận của các chứng khoán hay danh mục đầu tư do sự thay đổi trên thị trường nói chung, được gây ra bởi các yếu tố như tình hình kinh tế - chính trị trong và ngoài nước, các chính sách của chính phủ…Đây là phần rủi ro chung cho tất cả các loại chứng khoán và do đó hầu như không thể giảm thiểu rủi ro bằng chiến lược đa dạng hoá và được đo lường bằng hệ số beta. SVTH: ĐẶNG MINH HOÀNG Trang - 3 - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS.
NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN 1.Rủi ro phi hệ thống (Unsystematic Risk): Được hiểu với tên gọi khác là rủi ro có thể đa dạng hoá (Diversiable risk) hay rủi ro cụ thể (Specific risk). Rủi ro này chỉ ảnh hưởng đến nội bộ doanh nghiệp hoặc một ngành cụ thể nào đó do các nguyên nhân nội tại như: tình trạng khan hiếm nguồn cung nguyên vật liệu, năng lực điều hành doanh nghiệp của ban lãnh đạo công ty, hoặc thậm chí là sự thiếu hụt lực lượng lao động trong ngành…Đối với loại rủi ro này có thể giảm thiểu bằng chiến lược đầu tư đa dạng hoá. Thái độ của nhà đầu tư đối với rủi ro Thái độ của nhà đầu tư đối với rủi ro là yếu tố quan trọng trong việc ra quyết định đầu tư. Trong thị trường chứng khoán có hàng trăm cổ phiếu với sự biến động giá riêng biệt, thái độ đối với rủi ro của mỗi nhà đầu tư là khác nhau nên danh mục đầu tư mà họ nắm giữ cũng sẽ khác nhau.
Về cơ bản, những nhà đầu tư luôn từ chối rủi ro. Bằng chứng là họ theo luôn đuổi một vài hình thức bảo hiểm nào đó chẳng hạn như: bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm tài sản…Và hành động mua bảo hiểm được xem là khoản phí trả cho việc phòng ngừa những biến cố không chắc chắn trong tương lai. Ước lượng rủi ro Lý thuyết danh mục Markowitz ra đời vào những năm 1960 ãđ ch ỉ ra rằng phương sai của tỷ suất sinh lợi là một ước lượng có ý nghĩa đối với rủi ro của danh mục dựa trên một số giả định. Công thức phương sai danh mục đã chỉ ra tầm quan trọng của việc đa dạng hoá danh mục đầu tư để giảm thiểu rủi ro danh mục, đồng thời, cũng chỉ ra phương pháp để đa dạng hoá danh mục một cách hiệu quả nhất.
Tỷ suất sinh lợi mong đợi của danh mục các tài sản (hoặc cổ phần): TSSL của một danh mục các tài sản là giá trị trung bình theo tỷ trọng của TSSL mong đợi đối với từng khoản đầu tư cụ thể trong danh mục. Việc tính toán TSSL mong đợi đối với danh mục đầu tư được dựa theo phương trình sau: SVTH: ĐẶNG MINH HOÀNG Trang - 4 - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN 𝐧𝐧 𝐄𝐄(𝐑𝐑𝐩𝐩 ) = � 𝐰𝐰𝐢𝐢. E(R i ) : là TSSL mong đợi của tài sản i Giả định rằng mong đợi đối với một danh mục đầu tư bao gồm 4 tài sản rủi ro trình bày trong bảng 1.1: TSSL mong đợi đối với một danh mục đầu tư TSSL mong đợi Tài sản Tỷ trọng (𝐰𝐰𝐢𝐢 ) TSSL mong đợi (%) riêng lẽ (%) A 0,2 10 2 B 0,3 15 4,5 C 0,2 11 2,2 D 0,4 7 2,8 𝐄𝐄(𝐑𝐑𝐩𝐩) = 11,5 TSSL mong đợi đối với danh mục các khoản đầu tư là 11,5 %.
Ảnh hưởng của việc tăng hoặc giảm bất kì các khoản đầu tư nào từ DMĐT được xác định một cách dễ dàng vì chúng ta có thể sử dụng những tỷ trọng mới dựa trên TSSL mong đợi đối với từng khoản đầu tư. Hiệp phương sai: Đối với hai tài sản A,B hiệp phương sai TSSL là: 𝐧𝐧 𝐂𝐂𝐂𝐂𝐂𝐂𝐀𝐀𝐀𝐀 = � 𝛒𝛒𝐢𝐢. �𝐑𝐑 𝐢𝐢𝐢𝐢 − 𝐄𝐄(𝐑𝐑𝐀𝐀) ��𝐑𝐑 𝐢𝐢𝐢𝐢 − 𝐄𝐄(𝐑𝐑𝐁𝐁) � 𝐢𝐢=𝟏𝟏 Trong đó: R iA : là TSSL của chứng khoán A ở tình huống i. R iB : là TSSL của chứng khoán B ở tình huống i.
SVTH: ĐẶNG MINH HOÀNG Trang - 5 - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN E(R A ) : là TSSL mong đợi của chứng khoán A. E(R B ) : là TSSL mong đợi của chứng khoán B. Một giá trị hiệp phương sai dương có nghĩa là TSSL đ ối với hai khoản đầu tư có khuynh hướng dịch chuyển về cùng một hướng.
Ngược lại, một giá trị hiệp phương sai âm chỉ ra rằng TSSL đối với hai khoản đầu tư có khuynh hướng dịch chuyển về hai hướng khác nhau so với mức trung bình của chúng trong suốt một khoảng thời gian. Hệ số tương quan: 𝐂𝐂𝐂𝐂𝐂𝐂𝐀𝐀𝐀𝐀 𝛒𝛒𝐀𝐀𝐀𝐀 = 𝛔𝛔𝐀𝐀. 𝛔𝛔𝐁𝐁 Trong đó: ρAB : là hệ số tương quan của TSSL A,B σA : là độ lệch chuẩn của chứng khoán A. σB : là độ lệch chuẩn của chứng khoán B.
CovAB : là hiệp phương sai giữa hai chứng khoán A và B Hệ số tương quan là sự chuẩn hoá ước lượng hiệp phương sai do hiệp phương sai bị ảnh hưởng bởi tính biến thiên của hai chuỗi TSSL riêng lẽ. Hệ số tương quan thay đổi trong khoản từ -1 đến +1. • Nếu ρAB = 1: TSSL của hai chứng khoán có tương quan xác định hoàn toàn. Điều này có ý ngh ĩa r ằng việc kết hợp các tài sản riêng lẽ vào một danh mục hoàn toàn không có tác dụng triệt tiêu được rủi ro.
• Nếu ρAB = −1: TSSL của hai chứng khoán có tương quan phủ định hoàn toàn. Điều này có nghĩa là vi ệc kết hợp các tài sản riêng lẽ vào một danh mục có thể triệt tiêu được rủi ro. • Nếu ρAB = 0: TSSL của hai chứng khoán độc lập với nhau. Độ lệch chuẩn của một danh mục đầu tư: 𝐧𝐧 𝐧𝐧 𝐧𝐧 𝛔𝛔𝐏𝐏 = �� 𝐰𝐰𝐢𝐢 𝟐𝟐.
𝐂𝐂𝐂𝐂𝐂𝐂𝐢𝐢𝐢𝐢 𝐢𝐢=𝟏𝟏 𝐢𝐢=𝟏𝟏 𝐣𝐣=𝟏𝟏 SVTH: ĐẶNG MINH HOÀNG Trang - 6 - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN Trong đó: σP : là độ lệch chuẩn của DMĐT. wi : tỷ trọng đầu tư của tài sản riêng lẽ trong danh mục. σi 2 : phương sai của TSSL đối với tài sản i.
Covij : hiệp phương sai đối với TSSL i và j Công thức này cho thấy độ lệch chuẩn của DMĐT là một phần trung bình của những giá trị phương sai riêng lẽ (trong đó tỷ trọng là bình phương), c ộng với tỷ trọng hiệp phương sai giữa những tài sản trong danh mục. Độ lệch chuẩn hay rủi ro của DMĐT bao gồm không chỉ phương sai của những tài sản riêng lẽ mà còn bao gồm hiệp phương sai những cặp tài sản trong danh mục đó. Đường biên hiệu quả: Đường biên hiệu quả miêu tả tập hợp những DMĐT có TSSL lớn nhất cho mỗi mức độ rủi ro, hoặc có rủi ro thấp nhất cho mỗi mức TSSL. Nếu chúng ta xem xét những sự kết hợp hai tài sản khác nhau và xuất phát từ đường cong giả định của tất cả các khả năng đầu tư, chúng ta có thể có một đồ thị như hình 1.1: Đường cong giả định tất cả các khả năng đầu tư: Tỷ suất sinh lợi mong đợi Độ lệch chuẩn Đường cong bao bọc bên ngoài bao gồm tất cả các kết hợp tốt nhất hình thành một đường biên hiệu quả (Hình 1.
Mỗi DMĐT nằm trên đường biên hiệu quả có TSSL cao đối với mức độ rủi ro bằng nhau, hoặc rủi ro thấp hơn đối với mức TSSL SVTH: ĐẶNG MINH HOÀNG Trang - 7 - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN bằng nhau. Như vậy, ta có thể nói danh mục A và C có cùng TSSL nhưng A lại ít rủi ro hơn. Tương tự, danh mục B cũng đư ợc ưu tiên lựa chọn hơn C vì c ả hai đều có cùng mức độ rủi ro nhưng TSSL của danh mục B cao hơn.2: Đường cong giả định tất cả các khả năng đầu tư.
Đường biên hiệu quả B Tỷ suất sinh lợi A C Độ lệch chuẩn DMĐT tối ưu là danh mục nằm trên đường biên hiệu quả, tại đó lợi ích đem lại cho nhà đầu tư là cao nhất. Nó nằm tại tiếp điểm giữa đường biên hiệu quả và đường cong với mức hữu dụng cao nhất. Mức hữu dụng cao nhất của một nhà đầu tư thận trọng nằm tại điểm A. Còn đ ối với một nhà đầu tư ưu thích rủi ro hơn (dĩ nhiên TSSL cao hơn) nằm tại điểm B trên hình 1.3: Lựa chọn DMĐT tối ưu rủi ro trên đường biên hiệu quả Đường cong hữu dụng Tỷ suất sinh lợi mong đợi B E(R P 1 ) Đường biên hiệu quả Markowitz A E(R P 2 ) 𝛔𝛔𝐏𝐏𝐏𝐏 𝛔𝛔𝐏𝐏𝐏𝐏 Độ lệch chuẩn SVTH: ĐẶNG MINH HOÀNG Trang - 8 - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS.
NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN 1. Các lý thuyết tài chính doanh nghiệp hiện đại về rủi ro Trong tài chính doanh nghiệp hiện đại có rất nhiều lý thuyết tập trung vào rủi ro, nhưng trong đề tài này chỉ tập trung vào hai lý thuyết chính về rủi ro: “Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) và lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (APT).