Chương 1: Tổng quan về rủi ro tỷ giá hối đoái và công cụ tài chính phái sinh. - Chương 2: Thực tiễn áp dụng công cụ phái sinh phòng ngừa rủi ro tỷ giá tại Công ty Cổ phần Hoá dầu Quân đội - Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh việc phòng ngừa rủi ro tỷ giá bằng công cụ tài chính phái sinh. 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÔNG CỤ TÀI CHÍNH PHÁI SINH 1.1 Rủi ro tỷ giá và quá trình hình thành các công cụ phòng ngừa rủi ro 1.1 Tỷ giá hối đoái 1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái Hối đoái là sự chuyển đổi từ một đồng tiền này sang một đồng tiền khác. Sự chuyển đổi này xuất phát từ nhu cầu thanh toán giữa các cá nhân, công ty, tổ chức giữa hai quốc gia khác nhau và dựa trên một tỷ lệ nhất định giữa hai đồng tiền, tỷ giá đó gọi là tỷ giá hối đoái (hay còn gọi là tỷ giá).
Theo Samuelson – một nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng: TGHĐ là tỷ giá để đổi tiền của một nước lấy tiền của một nước khác Theo pháp lệnh về ngoại hối của Việt Nam được Quốc Hội ban hành ngày 13/12/2005 tại khoản 9 điều 4: “Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam” Theo PGS.TS Đinh Trọng Thịnh: Tài chính quốc tế, 2006, trang 35: “Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa các đồng tiền và là mức giá mà tại đó các đồng tiền có thể chuyển đổi được cho nhau” Tóm lại, tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền chính là giá cả đồng tiền này được tính bằng một số đơn vị đồng tiền kia.2 Phân loại tỷ giá hối đoái Trên thị trường tiền tệ thường gặp một số loại tỷ giá sau đây: a. Căn cứ vào thời điểm mua/bán ngoại hối Tỷ giá mua vào (Bid rate): Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua vào đồng tiền yết giá Tỷ giá bán ra (Ask/Offer rate): Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng bán ra đồng tiền yết giá 6 Tỷ giá mua vào bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán ra và khoản chênh lệch đó là lợi nhuận kinh doanh ngoại hối của ngân hàng. Căn cứ vào kỳ hạn thanh toán Tỷ giá giao ngay (Spot rate): Là tỷ giá được thỏa thuận hôm nay, nhưng việc thanh toán xảy ra trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo (T+2) Tỷ giá kỳ hạn (Forward rate): Là tỷ giá được thỏa thuận ngày hôm nay nhưng việc thanh toán xảy ra sau đó từ ba ngày làm việc trở lên. Căn cứ vào giá trị của tỷ giá Tỷ giá danh nghĩa (Nominal exchange rate –NER): Là tỷ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền biểu hiện theo giá hiện tại, không tính đến bất kỳ ảnh hưởng nào của lạm phát Tỷ giá thực (Real exchange rate – RER): Là tỷ giá có tính đến tác động của lạm phát và sức mua của một cặp tiền tệ phản ánh tương quan giá cả nước ngoài với giá cả trong nước.
Qua đó, giá cả nước ngoài sẽ được chuyển đổi thành giá cả tính bằng tiền tệ trong nước thông qua tỷ giá danh nghĩa. Tỷ giá này đại diện cho khả năng cạnh tranh quốc tế của nước đó. Căn cứ vào cơ chế điều hành chính sách tỷ giá Tỷ giá chính thức (Official rate): là tỷ giá do NHTW công bố, phản ánh chính thức về giá trị đối ngoại của đồng nội tệ. Ở Việt Nam, tỷ giá chính thức là tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Tỷ giá chợ đen (Black market rate): là tỷ giá được hình thành bên ngoài hệ thống ngân hàng, do quan hệ cung cầu trên thị trường chợ đen quyết định Tỷ giá cố định (Fixed rate): là tỷ giá do NHTW công bố cố định trong một biên độ giao động hẹp. Dưới áp lực của cung cầu trên thị trường, để duy trì tỷ giá cố định, NHTW phải thường xuyên can thiệp làm cho dự trữ ngoại hối quốc gia thay đổi. Tỷ giá thả nổi hoàn toàn (Freely floating rate): là tỷ giá được hình thành hoàn toàn theo quan hệ cung cầu trên thị trường, NHTW không hề can thiệp Tỷ giá thả nổi có điều tiết (Managed Floating rate): Là tỷ giá được thả nổi, nhưng NHTW tiến hành can thiệp để tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho nền kinh tế.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái Cũng như giá cả hàng hóa, tỷ giá thường xuyên biến động trên thị trường và chịu sự tác động của nhiều yếu tố. Một số yếu tố cơ bản tác động lên tỷ giá: - Tình hình lạm phát trong và ngoài nước: tỷ giá và lạm phát có mối quan hệ tỷ lệ thuận với nhau.
Nếu lạm phát trong nước cao hơn lạm phát ở nước ngoài, hàng hóa trong nước sẽ trở nên đắt đỏ hơn so với hàng hóa nước ngoài. Điều này sẽ dẫn đến sự gia tăng nhu cầu hàng hóa nhập ngoại và sự sụt giảm cầu nội địa. Sự dịch chuyển này sau đó dịch chuyển sang thị trường ngoại hối làm tăng cầu và giảm cung ngoại tệ. Kết quả là ngoại tệ lên giá so với nội tệ hay làm tăng tỷ giá.
- Tình hình thay đổi lãi suất nội tệ và ngoại tệ: tỷ giá và lãi suất đồng nội tệ có xu hướng tỷ lệ nghịch. Nếu lãi suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất ngoại tệ thì tài sản tài chính nội địa trở nên hấp dẫn các nhà đầu tư hơn tài sản tài chính nước ngoài. Điều này khiến các nhà đầu tư phải tái cấu trúc lại danh mục đầu tư đưa đến hệ quả là dòng vốn chảy ra khỏi thị trường vốn nước ngoài và chảy vào thị trường vốn nội địa. Kết quả là tăng cung và giảm cầu ngoại tệ làm cho đồng tiền trong nước lên giá so với ngoại tệ hay tỷ giá giảm.
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối: nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nước cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ngoài thì nhập khẩu tăng trưởng nhanh hơn xuất khẩu. Cầu ngoại tệ tăng nhanh hơn cung làm cho tỷ giá tăng. - Vai trò của chính phủ hay sự can thiệp của Ngân hàng Trung ương: Chính phủ thông qua Ngân hàng trung ương can thiệp vào thị trường ngoại hối bằng cách mua vào hoặc bán ra một khối lượng ngoại tệ lớn nhằm làm thay đổi cung cầu và tac động đến tỷ giá. - Tác động của nhiều yếu tố khác như: tình hình kinh tế chính trị, kỳ vọng và sự tấn công của nhà đầu cơ, giá vàng, giá dầu trên thị trường quốc tế, tình hình thu hút kiều hối….2 Rủi ro tỷ giá Rủi ro tỷ giá là rủi ro phát sinh do sự biến động của tỷ giá làm ảnh hưởng đến giá trị kỳ vọng trong tương lai.
8 Rủi ro tỷ giá có thể phát sinh trong nhiều hoạt động khác nhau của doanh nghiệp. Nhìn chung, bất cứ hoạt động nào mà dòng tiền vào và dòng tiền ra phát sinh bằng những loại tiền tệ khác nhau đều chứa đựng nguy cơ rủi ro tỷ giá. Đối với một doanh nghiệp, dòng tiền thường phát sinh từ ba nhóm hoạt động chính: hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài trợ. Do đó, rủi ro tỷ giá thường tác động vào dòng tiền của ba nhóm hoạt động này.3 Phân tích rủi ro tỷ giá trong hoạt động xuất nhập khẩu Có thể nói xuất nhập khẩu được xem là hoạt động nhạy cảm nhất đối với sự biến động của tỷ giá hối đoái so với các hoạt động khác.
Sự thay đổi của tỷ giá ngoại tệ so với nội tệ làm thay đổi giá trị kỳ vọng của các khoản thu hoặc chi ngoại tệ trong tương lai khiến cho hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu bị ảnh hưởng đáng kể. Trên thực tế, các nhà xuất nhập khẩu chỉ có thể biết được tỷ giá giao dịch của ngày hôm nay (ngày ký hợp đồng xuất nhập khẩu) nhưng không thể chắc chắn được tỷ giá trong tương lai (ngày đáo hạn hợp đồng). - Đối với nhà xuất khẩu, vào ngày đáo hạn, nếu tỷ giá tăng, thì ngoài việc thu được lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu, công ty còn kiếm được lợi nhuận từ sự tăng giá của đồng ngoại tệ. Nếu tỷ giá giảm xuống thì doanh thu kỳ vọng của hợp đồng xuất khẩu sẽ giảm đi và có thể gây ra lỗ nếu giá ngoại tệ xuống quá mạnh.
- Đối với nhà nhập khẩu, vào ngày đáo hạn, nếu tỷ giá tăng lên, công ty vẫn phải thanh toán số ngoại tệ như đã cam kết nhưng số nội tệ để mua ngoại tệ tính theo tỷ giá ngày đáo hạn lớn hơn nhiều so với số nội tệ dự kiến so với tỷ giá tại ngày ký hợp đồng. Ngược lại, nếu tỷ giá giảm xuống, số tiền dùng để mua ngoại tệ sẽ ít hơn so với dự kiến ban đầu. Như vậy, chúng ta có thể thấy đối với hoạt động xuất khẩu, công ty có kỳ vọng tỷ giá tăng và đối với hoạt động nhập khẩu, các doanh nghiệp thường kỳ vọng ở tỷ giá giảm.4 Phòng ngừa rủi ro tỷ giá 1.1 Các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá Trước những bất ổn của tỷ giá và ảnh hưởng của rủi ro tỷ giá đến tình hình hoạt động của các doanh nghiệp, thị trường đã phản ứng lại bằng cách hình thành 9 các sản phẩm phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Công cụ được đề cập đến trong việc phòng ngừa rủi ro tỷ giá là các công cụ tài chính phái sinh: hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng giao sau, hợp đồng hoán đổi và hợp đồng quyền chọn.
Hợp đồng kỳ hạn đã tồn tại trong hàng thập niên qua, nhưng chỉ đến đầu thập niên 1970 thì công cụ này mới chính thức được tin tưởng. Về cơ bản, thị trường hợp đồng ngoại hối kỳ hạn là thị trường liên ngân hàng, do đó nhiều công ty đối mặt với rủi ro tỷ giá do không thể tận dụng lợi ích của thị trường này. Để đáp ứng lại nhu cầu này ngày càng nhiều hơn, thị trường tài chính đã đáp ứng bằng việc cho ra đời hợp đồng giao sau về tỷ giá. Tháng 05/1972, thị trường tiền tệ quốc tế của Sàn giao dịch hàng hóa Chicago CME bắt đầu giao dịch hợp đồng giao sau với đồng bảng Anh, đô la Canada, mark Đức, yên Nhật, franc Thụy Sỹ và franc Pháp.
Công cụ hoán đổi tiền tệ đã xuất hiện tiếp sau đó. Hợp đồng hoán đổi giữa WB và IBM vào tháng 08/1981 đã được thừa nhận rộng rãi là buổi ra mắt công chúng của sản phẩm hoán đổi tiền tệ.