Chương I: Cơ sở lý luận về công tác phân tích tài chính doanh nghiệp Chương II: Thực trạng công tác phân tích tài chính doanh nghiệp tại Công ty Cô phần Quốc tế Sơn Hà Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính doanh nghiệp tai Công ty Cổ phần Quốc tế Sơn Ha Chuyên đề thực tập: “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty Cổ phan Quốc tê Sơn Hà” GVHD: Ths. Nguyễn Hương Giang SVTH: Nguyễn Văn Lâm (CQ521956) CHUONG I: CO SỞ LÝ LUẬN VE CÔNG TAC PHAN TÍCH TAI CHINH DOANH NGHIEP 1. Tổng quan về công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 1. Một số khái niệm cơ bản a.
Tài chính doanh nghiệp Về hình thức: Tài chính doanh nghiệp được coi là quỹ tiền tệ trong quá trình tao lập; phân phối; sử dung; và vận động gan liền với các hơạt động của doanh nghiệp. Về nội dung: Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ kinh tế duới hình thức giá trị găn liền với quá trình tạo lập; phân phối; và sử dụng quỹ tiền tệ phát sinh trong moi hoạt động của dơanh nghiệp. Nói cách khác, tai chính doanh nghiệp là các quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nên kinh tế. Những quan hệ tài chính chủ yếu bao gồm: Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước Phản ánh mối quan hệ kinh tế phàt sinh khi tất cá các doanh nghiệp thưộc mọi thành phần kinh tế thực hiện nghia vụ nộp thuế, và các nghĩa vụ tài chính khác, đối với ngân sách Nhà nước.
Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính Đây là mối quan hệ phát sinh khi các dơanh nghiệp tìm kiếm ngưồn tài trợ. Với thị trường tiên tệ:Các doanh nghiệp có thể thông qua hệ thống ngân hàng, đề thực hiện các khoan vay, dé đảm bảo nhu cầu vốn trong ngăn hạn; đồng thời phải hoàn trả cả gốc, và lãi trong một khơảng thời gian nhất định. Lưu Thị Hương (2005), Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, NXB Thống kê, Hà Nội 1 Chuyên đề thực tập: “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty Cổ phan Quốc tê Sơn Ha” GVHD: Ths. Nguyễn Hương Giang SVTH: Nguyễn Văn Lâm (CQ521956) Với thị trường vốn: Doanh nghiệp cũng có thé thông qua các tổ chức tài chính trưng gian, dé tìm kiếm các ngưồn vốn tài trợ trong dài hạn bằng cách phát hanh chứng khoán nhưtrái phiếu; cô phiếu.Ngược lại các chủ thé, khi tham gia đấu tư vào doanh nghiệp sẽ đưọc nhận một khoản lãi từ phía doanh nghiệp.
Khoản lãi nay cớ thé cố định, hay tùy thuộc vao tình hình san xưất kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đócác doanh nghiệp cớ thé thông qua thị trường tài chính dé tìm kiếm lợi nhuận thông qua, việc tận dụng ngưồn vốn nhàn rỗi cua mình gửi vào ngân hàng, hay đầu tư chưng khoán. Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường khác Trong nền kinh tế mỗi doanh nghiệp lại có mối liên hệ chặt chẽ, với các doanh nghiệp khàc trên thị trường hang hóa dịch vụ, và thị trường lao động. Tại những thị trường này, các doanh nghiệp tiên hành mua sắm máy móc thiết bị; nhà xưởng; thuê muớn lao động.Quan trọng hơn cả là các doanh nghiệp có thể thông qua thị trường, để xác định như cầu hàng hóa dịch vụ cần cung ứng.
Từ đó doanh nghiệp lên kế hoạch sản xuất; hoạch định tài chính; tiếp thi, và quảng bá sản phẩm, nhằm thỏa mãn nhu cau cua thị trường. Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp Đó là môi quan hệ giữa các bộ phân sản xuât kinh dơanh, giữa cô đông với người quán lý; giữa cô đông với chủ nợ; giữa quyên sở hữu vôn với quyên sử dựng vôn. Những môi quan hệ này, được biêu hiện thông qua rât nhiêu chinh sách của doanh nghiệp như chính sách đâu tư; chính sách cô tức;chính sách co câu vôn; chính sách đãi ngộ. Phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính được hiểu, là một tập hợp các khái niệm; phương pháp, và công cụ cho pháp xử lý các thông tin kế toán, và các thông tin khác 2 Chuyên đề thực tập: “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty Cổ phan Quốc tê Sơn Ha” GVHD: Ths.
Nguyễn Hương Giang SVTH: Nguyễn Văn Lâm (CQ521956) về quản lý nhằm đánh giả tình hình tài chính của một doanh nghiệp; đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động cúa doanh nghiệp. Nhờ có phân tích tài chính, mà doanh nghiệp có thé đưa ra nhận định ban đầu về tình hình tài chính, và tiềm lực tài chính của mình.Qua đó giúp người sư dụng thông tin, có thé dé dang năm được kha năng độc lập về tai chính của doanh nghiệp; về an ninh tài chính cũng như những rủi ro thách thức, mà doanh nghiệp phải đương đầu. Có rất nhiều đôi tượng quan tâm, và sử dụng các thông tin từ phân tích tái chính của doanh nghiệp. Mỗi đối tuợng lại chú trọng vào nhưng khía cạnh, và mục tiêu khác nhau.
Song nhìn chunghọ đều quan tâm tới khả năng tạo ra dòng tiền; khả năng sinh lời; khả năng thanh toán; và khả năng đạt mưc lợi nhuận tối đa.Bởi vậy phân tích tài chính doanh nghiệp, phải đạt đuợc các mục tiêu sau: Thứ nhất, cung cấp đầy đủ kịp thời những thông tin cần thiết, cho các nha đầu tư; chủ nợ; và những đối tuợng sử dụng khác dé họ có thé dé dang hơn khi ra các quyết định dau tư tín dung,hay các quyết định tương tự. Thứ hai, cung cấp các thông tin quan trọng nhất, cho chủ doanh nghiệp; nhà dau tu; chủ nợ; và những đối tượng khacdé hợcó thé đánh giá số lượng thời gian, và các rủi ro của những khoản thu bằng tiền từ cô tức, hoặc tiền lãi. Thứ ba, cung cấp các thông tin về nguồn luc kinh tế;cơ cấu vốn; kết quả của các quá trình làm thay đổi nguồn vôn chủ sở hữu,và các khoán nợ của doanh nghiệp. Đồng thời cho biết thêm nghĩa vụ của mỗi doanh nghiép đối với các ngưồn lực này, vàảnh hưởng cửa những nghiệp vụ kinh tế phát sinhtừ đó giùp cho các nhà quán trị doanh nghiệp, dự đoán được đầy đủ, và chính xác hơn quá trình phát triển doanh nghiệp trong tương lai.
3 Chuyên đề thực tập: “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty Cổ phan Quốc tê Sơn Ha” GVHD: Ths. Nguyễn Hương Giang SVTH: Nguyễn Văn Lâm (CQ521956) 1. Nguồn thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp Trong công tác phân tích tài chính doanh nghiép nhà phân tích phải tiến hành thu thập, và sử dụng thông tin, từ tất cả các nguén khác nhau: Từ những thông tin của nội bộ doánh nghiệp, đến những ngưồn thông tin từ bên ngoái doanh nghiệp, như thông tin phản ánh tình hình kinh tế nói chung, thông tin của ngành. Tất cả những thông tin này, đều giúp cho các nhà phân tích đua ra được những đánh giá; kết luận đây đủ và phù hợp.
Thông tin nội bộ doanh nghiện Dé đánh giá một cách khái quát nhất, tình hình tài chính của doanh nghiép, nguồn thông tin quan trọng bậc nhat cần phải sử dựng đó là thông tin kế tơán nội bộ doanh nghiệp. Thông tin kế toán, được tổng hop khá day đủ, và chi tiết trong các báo cáo tài chính. Hoạt động phân tích tài chính, được thực hiện trên cơ sở các báo cáo tài chính nay. Day là những báo cáo tổng hợp nhất về sự biến động tình hình tái sản - nguồn vốn (vốn chủ sở hữu và vốn nợ) cũng như kết quả sản xuất kinh doanh; diễn biến dong tiền; và khả năng sinh lời trong kỳ của doanh nghiệp.
Chính vì vậy báo cáo tài chính, được sử dung như nguồn thông tin chính, cho công tác phân tích tài chình doanh nghiệp. Hệ thống báo báo tài chính bao gồm: a. Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán, là một báo cáo tài chính phán ánh tông quát tình hình tai sản của mỗi doanh nghiệp theo giá trị,và nguồn hình thành nên tài sản tai một thời điêm nhất định. Đây là báo cáo tài chính, có ý nghĩa hét sức quan trọng, đối với mọi đới tượng có mối quan hệ mật thiết với doanh nghiệp.
Bảng cân đối kế toán có thé được trình bay theo một trong 2 dạng sau:(1) dạng cân đối hai bên (một bên là tài sản, một bên là nguồn vốn); (2) dạng cân đối theo hai phần liên tiếp (phần trên là tài sản, phần dưới là nguồn vốn). Dù được trình bày theo dạng nào thì các khoản mục trong bảng cân đối kế toán đều được sắp xếp theo thứ tự giảm dan từ trên xuống của khả năng chuyền đổi thành tiền. 4 Chuyên đề thực tập: “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty Cổ phan Quốc tê Sơn Ha” GVHD: Ths. Nguyễn Hương Giang SVTH: Nguyễn Văn Lâm (CQ521956) Phần tài sản phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của dơanh nghiệp tính đến thời điêm cuối kỳ hạch toán thuộc quyền quản lý, sử dụng của dơanh nghiép.
Phan tai san bao gom có 2 loại: Loại A: Tài sản lưu động (bao gôm tiên, và các loại chứng khoán ngăn hạn dễ bán, khoản phải thu, dự trữ) và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn. Loại B: Tài sản cố định, và các khoản đầu tư tài chính đài hạn. Phan nguồn von,phan ánh nguôn hình thành nên các lơại tài sản,và các loại vôn kinh doanh, của doanh nghiệp tính đên thời điêm cuôi kỳ hạch toán; các chí tiêu được sap xép,va phân chia theo tứng nguôn hình thành nên tai san của doanh nghiệp. Phân ngưôn vôn bao gôm có 2 loại: Loại A: Nợ phải trả.
Trong khoản mục nợ phải trả, lai bao gồm: (1)Nợ ngắn hạn (bao gồm nợ phải trả nhà cung cấp; khoản phải trả phải nôp khác; các khoản nợ ngắn hạn các ngân hang thương mại, và tổ chức tin dụng khác); (2) Nợ dài hạn (bao gồm các khoan nợ vay dài hạn các ngân hàng thuơng mại, và tổ chức tín dụng khác;các khoản vay thông qua phàt hành trái phiếu). Loại B: Nguồn vốn chủ sở hữu (thông thường bao gồm: vốn gop ban đầu; lợi nhuận giữ lại không chia, và vốn từ phát hành cô phiêu mới). Xét về mặt kinh tế phần tài sản trong bảng cân đối kế toán, phản ánh quy mô, và kết cau cửa các loại tài sản, còn phần ngưồn vốn phản ánh cơ cau vốn; cơ cấu tài trợ, cũng như khả năng đôc lập về tài chính của doanh nghiệp.Trong bảng cân đối kế toán, cả phan tài sản, và phần ngưôn vốn đều co các cột chỉ tiêu: Số đầu kỳ, và số cuối kỳ.